Giê-su – Wikipedia tiếng Việt
Bước tới nội dung
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Giêsu
Linh ảnh
Đấng toàn năng Kitô
Tu viện Thánh Catarina
, nơi
sơn cước Sinai
, có niên đại về thế kỷ thứ 6
Sinh
k.
6 tới 4 TCN
Vương quốc Herod Judea
Đế quốc La Mã
Mất
30 hoặc 33 CN
(33–36 tuổi)
Jerusalem
Judea
, Đế quốc La Mã
Nguyên
nhân mất
Bị đóng đinh trên cây thập tự
Nổi
tiếng vì
Hình tượng trung tâm của
Đạo Kitô
Cha mẹ
Maria
Giuse
Giêsu
k.
6 tới 4 TCN
30 hoặc 33 CN),
Giêsu Kitô
Giêsu xứ Nazareth
, hay còn được biết đến bằng nhiều
những tên gọi và danh hiệu khác
, là một hành giả, thủ lĩnh tôn giáo
người Do Thái
từng sống tại
Tỉnh Judaea
Đế quốc La Mã
Ông được coi là hình tượng trung tâm của
Kitô giáo
tôn giáo lớn nhất thế giới
. Về mặt lịch sử, hầu hết các nhà nghiên cứu chuyên ngành
cổ đại cổ điển
đồng thuận công nhận
Giêsu là nhân vật có thật
Thông tin về
cuộc đời ông
được ghi chép tương đối chi tiết trong
Phúc Âm
, cụ thể là bốn tập
Phúc Âm quy điển
trong
Tân Ước
. Kể từ
Thời kỳ Khai sáng
độ xác tín lịch sử của Phúc Âm
và độ tiệm cận của chúng với
Giêsu lịch sử
đã trở thành chủ đề của nhiều nghiên cứu học thuật với những kết luận khác nhau.
10
11
12
Theo
truyền thống Kitô giáo
như được lưu tồn trong các bản Phúc Âm và
Sách Công vụ Tông đồ
, Giêsu được cắt bao quy đầu vào năm lên tám, được rửa tội bởi
Gioan Baotixita
khi thành niên, nhịn đói 40 ngày đêm trong chốn hoang dã rồi bắt đầu công tác mục vụ. Ông trở thành một "
rabbi
", đi du thuyết và diễn giải
luật Kinh Thánh
dựa trên thẩm quyền do Thiên Chúa ban. Ông thường xuyên tranh luận với những người Do Thái đồng chí làm thế nào để phụng vụ
Chúa
tốt nhất có thể: chữa lành kẻ bị thương tật, giảng đạo bằng
dụ ngôn
và thu thập đồ đệ, trong số đó có 12 người được chọn làm
sứ đồ
của ông. Ông bị bắt tại
Jerusalem
, đưa ra xét xử trước
tòa án Do Thái
13
bị giao nộp cho chính quyền La Mã rồi
bị đóng đinh
theo lệnh của
praefectus
(chức quan La Mã tương đương tổng trấn) tỉnh Judaea là
Pontius Pilatus
. Sau cái chết của Giêsu, tín đồ của ông tin rằng
ông đã đội mồ sống dậy
; cộng đồng ấy về sau trở thành
Giáo hội sơ khai
rồi phát triển và bành trướng khắp thế giới.
14
Theo quan điểm
thần học Kitô giáo
, Giêsu được thụ thai bởi
Thánh Linh
và được sinh ra bởi mẹ đồng trinh
Maria
dưới sự ảnh hưởng của
phép mầu nhiệm
. Ông thành lập
Giáo hội Kitô giáo
, bị đóng đinh để chuộc tội cho nhân loại, sống dậy vào ngày thứ ba và lên Thiên Đàng chờ một ngày quay lại trần thế. Thông thường, Kitô hữu tin rằng Giêsu là cầu nối cho phép người phàm tạ tội với Chúa Trời.
Tín biểu Nicaea
cho rằng Giêsu sẽ phán xét kẻ sống lẫn người chết, có thể là trước hoặc sau khi thân xác của họ được hồi sinh, một khi ông trở lại cõi trần theo
học thuyết cánh chung Kitô giáo
. Đa phần Kitô hữu coi Giêsu là hiện thân của Chúa Con, là ngôi thứ hai trong
Chúa Ba Ngôi
Ngày sinh của Giêsu
được ăn mừng hằng năm, thường rơi vào ngày 25 tháng 12, gọi là ngày
Giáng Sinh
. Ngày kỷ niệm sự đóng đinh của ông được gọi là
Thứ Sáu Tuần Thánh
và ngày ông sống lại được gọi là
Chủ Nhật Phục Sinh
Tây lịch
được dùng phổ biến hiện nay lấy ngày sinh sai lệch của ông làm mốc tính niên đại.
Đạo Do Thái
không tin Giêsu là messiah vì cho rằng ông chưa hoàn bị những lời tiên tri messiah, đồng thời không công nhận ông đã được xức dầu hợp pháp, không phải thánh thần và chưa từng sống dậy. Trái lại,
Giêsu trong Hồi giáo
, được biết đến với cái tên trong
Kinh Qur’an
là
ʿĪsā
, vẫn được coi là messiah và là nhà tiên tri của Chúa, được Chúa gửi gắm cho
dân tộc Israel
và
sẽ trở lại Địa Cầu
trước
Ngày Phán Xét
. Tín hữu
Hồi giáo
cho rằng Giêsu vừa không phải là Chúa, vừa không phải là con Chúa. Họ
không tin rằng ông từng bị đóng đinh hoặc sống dậy
mà cho rằng Chúa đã đưa ông lên Thiên Đàng ngay từ lúc bình sinh. Ngoài các tôn giáo lớn kể trên, Giêsu còn được thờ phụng trong các tôn giáo thiểu số như
Bahá'í giáo
Druze
và
Rastafari
Tên gọi và ngữ nguyên
Tên của Giê-su bằng chữ Nôm: 支秋 trong tác phẩm 徳主支秋 (
Đức Chúa Giê-su
, thế kỷ thứ 17) của giáo sĩ Dòng Tên
Girolamo Maiorica
Người Do Thái
đương thời thường thêm tên người cha hoặc tên quê quán vào tên gọi cá nhân.
15
Như vậy, trong Tân Ước, Giêsu cũng được gọi là "Giêsu thành Nazareth" (Mátthêu 26:71),
16
"con ông Giuse" (Lc 4:22) hoặc đầy đủ nhất là "Giêsu con ông Giuse thành Nazareth" (Ga 1:45).
17
Tuy nhiên, trong Máccô 6:3 thì lại gọi là "con bà
Maria
, và anh em của các ông Giacôbê, Giôxết, Giuđa và Simon".
18
Tên Giêsu ngày nay trong các ngôn ngữ hiện đại có nguồn gốc từ
Iesus
trong
tiếng Latinh
, đây là một hình thức chuyển tự của chữ
Ἰησοῦς
Iesous
) từ
tiếng Hy Lạp
19
Hình thức thể hiện của tiếng Hy Lạp lại bắt nguồn từ chữ ישוע (
Yeshua
) trong
tiếng Aram
, nhưng tựu trung có nguồn gốc từ chữ יהושע (
Yehoshua
) của
tiếng Hebrew
20
21
Tên
Yeshua
dường như đã được sử dụng trong xứ
Judea
tại thời điểm Giêsu ra đời.
22
Theo giải thích của Tân Ước, tên gọi này nghĩa là "Giavê là sự cứu rỗi".
23
Tiếng Việt
Giê-su
hay
Giê-xu
là cách phiên âm tiếng Việt bắt nguồn từ ngữ âm
tiếng Latinh
hoặc
tiếng Bồ Đào Nha
. Trong quá khứ, tên của ông đã từng được các nhà truyền giáo phương Tây, sớm nhất có lẽ là linh mục người Ý
Girolamo Maiorica
(mất năm 1656), phiên sang
chữ Nôm
dưới dạng 支秋 (
âm Hán-Việt
Chi Thu
).
Alexandre de Rhodes
(1651) trong cuốn
Từ điển Việt-Bồ-La
viết tên ông bằng
chữ Quốc ngữ
sơ khai là
Ieſu
Từ
Ki-tô
(hay
Ki-ri-xi-tô
chữ Nôm
: 基移吹蘇), cũng phiên âm là
Cơ-đốc
(hay
Cơ-lợi-tư-đốc
chữ Hán
: 基利斯督), không phải là tên nhưng là một danh hiệu.
Cuộc đời và giáo huấn theo Tân Ước
Bài chi tiết:
Cuộc đời Giêsu theo Tân Ước
Xem thêm:
Các địa danh liên quan đến Giêsu trong Tân Ước
Một phần trong
loạt bài
về
Kitô giáo
Giê-su
Ki-tô
Chúa Giêsu trong Kitô giáo
Giáng sinh
Sứ vụ
Khổ hình
Phục sinh
Kinh Thánh
Nền tảng
Cựu Ước
Tân Ước
Phúc Âm
Quy điển
Giáo hội
Bản tuyên tín
Giao ước mới
Thần học
Thiên Chúa
Ba Ngôi
Cha
Con
Thánh Linh
Biện giáo
Cứu rỗi
Kitô học
Lịch sử thần học
Thanh tẩy
Truyền giáo
Lịch sử
Truyền thống
Maria
Sứ đồ
Phêrô
Phaolô
Giáo Phụ
Kitô giáo sơ khai
Constantinus
Công đồng đại kết
Augustinus
Ly giáo Đông–Tây
Thập tự chinh
Tôma Aquinô
Luther
Cải cách Kháng nghị
Hệ phái
Nhóm
Đông phương
Chính thống giáo Đông phương
Chính thống giáo Cổ Đông phương
Cảnh giáo
Công giáo Đông phương
Tây phương
Công giáo Rôma
Anh giáo
Tin Lành
Lutheran
Calvinist
Anabaptist
Baptist
Giám lý
Phúc âm
Thánh khiết
Phục lâm
Ngũ tuần
Thuyết phi Ba Ngôi
Nhân chứng Giêhôva
Ngũ tuần Nhất thể
Thánh hữu Ngày Sau
Chủ đề liên quan
Âm nhạc
Biểu trưng
Cầu nguyện
Chỉ trích
Đại kết
Liên tôn
Nghệ thuật
Phụng vụ
Vai trò văn minh
Văn hóa
Chủ đề Cơ Đốc giáo
Phúc Âm quy điển
Bài chi tiết:
Sách Phúc Âm
Tổng hòa Phúc Âm
, và
Độ tin cậy sử học của các sách Phúc Âm
Bốn cuốn
Phúc Âm quy điển
Mátthêu
Máccô
Luca
, và
Gioan
) là những nguồn văn liệu cực kỳ quan trọng về cuộc đời và thông điệp của Giêsu.
15
Các phần khác trong Tân Ước cũng có đề cập qua một số giai đoạn trong cuộc đời của ông, chẳng hạn như sự kiện
Bữa ăn tối cuối cùng
được kể trong
1 Côrintô
11
:23–26.
24
25
26
Sách Công vụ Tông đồ
27
đề cập đến thừa tác vụ ban sớm của Giêsu và dự tưởng của
Gioan Tẩy Giả
28
29
Công vụ 1:1–11
30
kể chi tiết hơn các cuốn quy điển về sự kiện
Giêsu thăng thiên
31
32
Giáo huấn của Giêsu được trích dẫn rất nhiều lần trong
các lá thư Phaolô xác đáng
, có niên đại trước cả các quy điển Phúc Âm.
33
Một số nhóm
Kitô hữu thuở sớm
có những tác phẩm tường thuật khác về cuộc đời của Giêsu và giáo huấn khác Tân Ước. Chúng bao gồm
Phúc Âm Tôma
Phúc Âm Phêrô
Phúc Âm Giuđa
Ngụy thư Giacôbê
, và
nhiều ngụy thư khác
. Hầu hết học giả cho rằng những tác phẩm này được viết khá muộn và không đáng tin như bộ bốn cuốn Phúc Âm quy điển.
36
37
38
Danh tính tác giả, niên đại, và độ tin cậy
Các tác giả viết bốn cuốn Phúc Âm quy điển đều khuyết danh. Theo truyền thống, những người này được xác định là
bốn nhà thánh sử
có liên hệ với Giêsu:
39
cộng sự của
Phêrô
là
Gioan Máccô
viết cuốn Máccô; một trong những môn đệ của Giêsu viết cuốn
Mátthêu
39
Thánh sử Luca
, bằng hữu của
Phaolô
được nhắc đến trong một số tín thư, viết cuốn Luca;
39
và một môn đệ khác của Giêsu, biệt danh là "
môn đệ quý mến
",
40
viết cuốn Gioan.
39
Theo
giả thuyết ưu tiên Máccô
, sách Phúc Âm quy điển đầu tiên được viết là Phúc Âm Máccô (60–75 CN), kế tiếp là Phúc Âm Mátthêu (65–85 CN), Phúc Âm Luca (65–95 CN), rồi Phúc Âm Gioan (75–100 CN).
41
Hầu hết học giả đồng thuận rằng Mátthêu và Luca sử dụng cuốn Máccô làm tham chiếu để viết các tác phẩm của họ. Hơn nữa, vì tường thuật của Mátthêu và Luca chia sẻ một số chi tiết chung không có trong Máccô, nhiều nhà nghiên cứu suy đoán rằng hai tác giả kể trên đã tham khảo từ một nguồn nào đó khác nguồn Máccô – được giả sử là "
nguồn Q
".
42
Khảo dị cấu trúc và nội dung
Phả hệ và giáng sinh
Bài chi tiết:
Phả hệ của Giêsu
và
Sự giáng sinh của Giêsu
Một phần trong
loạt bài
về
Jesus trong Cơ Đốc giáo
Cơ Đốc luận
Danh xưng và tước hiệu
Đấng Christ
Cuộc đời của Jesus
Sách Phúc Âm
Bảng đối chiếu
Địa danh
Gia đình thánh
Hoài thai bởi nữ đồng trinh
Giáng sinh
Chịu báp-têm
Thi hành sứ mệnh
Bài giảng trên núi
Dấu lạ
Ẩn dụ
Hạ mình
Bị đóng đinh
Dụng cụ hành hình
Thập tự giá thật
An táng
Phục sinh
Thăng thiên
Vâng phục
Ngự trị trên thiên đường
Cầu thay
Khải tượng về Jesus
Tái lâm
Jesus trong Hồi giáo
Masih
Injil
Danh xưng và tước hiệu
Mary
Sứ đồ
Cái chết
Mahdi
Thời kì mạt thế
Bối cảnh
Bối cảnh của Tân Ước
Ngôn ngữ mà Jesus đã sử dụng
Dòng dõi của Jesus
phổ hệ
Sức khoẻ tinh thần của Jesus
Jesus trong lịch sử
Niên đại học
Hành trình tìm kiếm Jesus trong lịch sử
Tính lịch sử
Tính xác thực lịch sử của Jesus
Độ tin cậy của các sách Phúc Âm
Thần thoại
Thuyết cho rằng Jesus chỉ là một nhân vật thần thoại
Phê bình
Những năm tháng không được ghi chép
Thành tích
Quan điểm về Jesus
Cơ Đốc luận
Người Do Thái
Talmud
Hồi giáo
Ahmadiyya
Mani giáo
Mandaean giáo
Tác phẩm của Josephus
Ghi chép của Tacitus
Thư từ của Bar-Serapion
Jesus trong văn hoá
Cuộc đời qua nghệ thuật
Bảo tàng Cuộc đời Đấng Christ
Khắc hoạ hình tượng
Gia Tô giáo
Cổng thông tin
Cơ Đốc giáo
Giêsu là người Do Thái,
được hạ sinh bởi
Maria
, vợ của
Giusê
43
Phúc Âm Mátthêu và Luca đưa ra hai ký thuật về
phả hệ của Giêsu
. Cuốn Mátthêu truy tổ tiên của Giêsu về
Abraham
thông qua
David
44
45
Cuốn Luca truy tổ tiên của Giêsu về Thiên Chúa thông qua
Adam
46
47
Danh sách họ hàng các đời giữa Abraham và David của Giêsu trong hai tác phẩm rất tương đồng, song từ đó trở đi thì khác biệt rất nhiều. Mátthêu liệt kê 27 thế hệ từ David đến Giusê, còn Luca khẳng định tồn tại tới tận 42 thế hệ, hơn nữa cũng có rất ít tên trùng lặp nhau.
48
Nhiều giả thuyết đã được đề ra để giải thích cho những bất nhất này.
Họa phẩm
Sự chiêm bái của các mục đồng
bởi
Gerard van Honthorst
, 1622
Phúc Âm Mátthêu và Luca đều đề cập đến sự kiện Giêsu chào đời, đều khẳng định một thiếu nữ đồng trinh tên là Maria đã hạ sinh Giêsu ở
Bethlehem
nhằm hoàn bị một lời sấm. Ký thuật của Luca nhấn mạnh các sự kiện xảy ra trước
khi Giêsu chào đời
và xoay quanh Maria, trong khi Mátthêu tập trung chủ yếu vào những sự kiện sau đó và xoay quanh Giusê.
49
50
51
Cả hai tác phẩm đều khẳng định Giusê và Maria là cha mẹ của Giêsu, và cùng ủng hộ học thuyết về
sự ra đời đồng trinh của Giêsu
, theo đó thì Maria được thụ thai một cách thần kỳ bởi
Thánh Linh
khi bà còn là một thiếu nữ đồng trinh.
52
53
54
Đồng thời, ta cũng có bằng chứng, ít nhất là trong sách Công vụ Tông đồ
Luca
, rằng Giêsu được cho là có hai dòng cha, giống như nhiều hình tượng huyền sử thời ấy.
Họa phẩm
Lễ cắt bao quy đầu
bởi
Giovanni Bellini
, khoảng năm 1500, miêu tả sự kiện Giêsu được cắt bao quy đầu.
Trong Phúc Âm Mátthêu, Giusê đã rất bối rối khi biết Maria mang thai, song một thiên sứ đã báo mộng an ủi ông rằng không có gì phải sợ, bởi lẽ đứa bé được thụ thai bởi quyền năng của Thánh Linh. Trong Phúc Âm Mátthêu 2:1–12,
các nhà đạo sĩ từ phương Đông
đã tới để dâng bái Giêsu vì tin rằng cậu là Vua của người Do Thái. Trong Phúc Âm Mátthêu, khi
Hêrôđê Đại vương
hay tin Giêsu ra đời, ông ta liền hạ lệnh cho
giết tất cả các bé trai dưới 2 tuổi
ở Bethlehem. Song một thiên sứ đã kịp thời cảnh báo Giusê trong giấc mơ thứ hai, giúp cho gia đình ông có thể chạy nạn sang Ai Cập – về sau lại an cư ở Nazareth.
Trong Phúc Âm Luca 1:31–38, Maria nhận tin báo từ thiên thần Gabriel rằng, bà sẽ mang thai một đứa con tên là Giêsu nhờ quyền năng của Thánh Linh. Lúc sắp sửa sinh, Maria và Giusê đang lữ hành từ Nazareth tới ngôi nhà tổ tiên của Giusê ở Bethlehem để khai hộ khẩu theo chỉ dụ của Hoàng đế La Mã
Caesar Augustus
. Tại đây, Maria hạ sinh Giêsu. Vì không tìm thấy hàng quán nào để nghỉ ngơi, bà đành đặt đứa con sơ sinh lên một máng cỏ. Thiên sứ liền thông cáo sự ra đời của Giêsu cho một đám mục đồng, khiến họ đến thăm Bethlehem và chứng kiến Giêsu, rồi lan truyền tin mừng này khắp nơi. Phúc Âm Luca 2:21 kể về việc Giusê và Maria cho đứa con mới sinh của họ được cắt bao quy đầu vào ngày thứ 8, rồi đặt tên là Giêsu, đúng theo chỉ bảo của Gabriel. Sau khi
dâng Giêsu tại Đền Thánh
, Giusê và Maria quay về Nazareth.
Đầu đời, gia quyến, và nghề nghiệp
Bài chi tiết:
Giêsu Hài đồng
Xem thêm:
Gia đình Giêsu trở về Nazareth
Những năm tháng không biết của Giêsu
, và
Anh em của Giêsu
Họa phẩm
Tìm thấy Giêsu trong Đền Thánh
của
James Tissot
Sau khi sinh ra, gia đình Giêsu đã
trốn sang Ai Cập
và chỉ trở về sau khi
vua Hêrôđê
băng hà tại Giêricô.
Giêsu trải qua thời niên thiếu tại làng
Nazareth
thuộc xứ
Galilea
. Chỉ có một sự kiện xảy ra trong thời gian này được ghi lại là khi cậu bé Giêsu theo gia đình lên
Jerusalem
trong một chuyến hành hương. Bị thất lạc khỏi cha mẹ, cuối cùng cậu bé Giêsu 12 tuổi được tìm thấy trong
Đền thờ Jerusalem
, đang tranh luận với các học giả Do Thái giáo.
Theo tác giả
Nicholas Notovitch
, trong tác phẩm
”Cuộc đời chưa được biết đến của Chúa”
, Giêsu, mang tên Isha, đã sang Ấn Độ học
Phật giáo
trong suốt thời thanh niên của ông.
55
Tuy nhiên, theo quan điểm của học giả Wilhelm Schneemelcher vào năm 1990
56
và học giả Robert McNair Price vào năm 2003,
57
họ cho rằng tuyên bố của ông Notovitch là không chính xác.
Rửa tội và cám dỗ
Ngay sau khi chịu lễ
Thanh Tẩy
(lễ Rửa Tội) bởi
Gioan Baotixita
, Giêsu bắt đầu đi rao giảng, khi ấy khoảng ba mươi tuổi. Theo
Phúc Âm Luca
, Giêsu và
Gioan Baotixita
là anh em họ vì Maria và
Elizabeth
, mẹ của Gioan, là hai chị em họ.
Thừa tác vụ công cộng
Theo
Kinh Thánh
, Giêsu đã cùng các môn đồ đi khắp xứ
Galilea
để giảng dạy và chữa bệnh. Cung cách giảng dạy mang thẩm quyền, uy lực cùng với kỹ năng diễn thuyết điêu luyện, Giêsu sử dụng các
dụ ngôn
để giảng dạy quan điểm về tình yêu thương nên đã thu hút rất nhiều người. Họ tụ họp thành đám đông và tìm đến bất cứ nơi nào Giêsu có mặt. Đôi khi đám đông trở nên mất trật tự và ông buộc phải ngồi trên thuyền mà giảng dạy. Giêsu cũng tìm đến và thuyết giáo tại các hội đường Do Thái giáo (
synagogue
).
Phúc Âm Luca
viết trên một giấy cói bằng chữ Hy Lạp ở thế kỷ thứ III
Giêsu áp dụng các phương pháp khác nhau khi giảng dạy, phép
nghịch lý
, phép
ẩn dụ
và các
truyện dụ ngôn
. Ông thường tập trung vào Nước Trời (hay Thiên Quốc). Nổi tiếng nhất là
Bài giảng trên núi
, trong đó đề cập đến
Tám Mối Phúc thật
Beatitudes
). Trong số những dụ ngôn của Giêsu, được biết đến nhiều nhất là hai câu chuyện:
Người Samaria nhân lành
và
Người con trai hoang đàng
. Giêsu có nhiều môn đồ, thân cận nhất là
mười hai sứ đồ
(hoặc tông đồ),
Phêrô
được
Công giáo Rôma
cho là sứ đồ trưởng. Theo
Tân Ước
, Giêsu làm nhiều phép lạ như chữa bệnh, đuổi tà ma và khiến một người đàn ông tên là Lazarô sống lại khi đã chết.
Giới lãnh đạo Do Thái giáo bao gồm các nhóm quyền lực đối nghịch nhau như nhóm Sadducee và nhóm
Pharisêu
(Pharisee) thường bất đồng với Giêsu. Ông vẫn thường vạch trần tính chuộng hình thức cũng như tinh thần đạo đức giả của người Pharisêu. Nhiều người xem Giêsu như một
nhà cải cách xã hội
, những người khác tỏ ra nhiệt tình vì tin rằng ông là vị vua đến để giải phóng dân Do Thái khỏi ách thống trị của
Đế quốc La Mã
, trong khi giới cầm quyền xem Giêsu như một thế lực mới đang đe dọa những định chế tôn giáo và chính trị đương thời. Nhiều người tin nhận Giêsu là "Đấng Cứu Tinh" (Messie, Messiah) đến để cứu chuộc nhân loại.
Bị bắt và xét xử
Bài chi tiết:
Cuộc thương khó của Giêsu
và
Sự kiện đóng đinh Giêsu
Giêsu cùng các môn đồ lên thành
Jerusalem
vào dịp
Lễ Vượt Qua
Passover
); ông vào
Đền thờ Jerusalem
, đánh đuổi những người buôn bán và những kẻ đổi tiền, lật đổ bàn của họ và quở trách họ rằng: "Nhà ta được gọi là nhà cầu nguyện nhưng các ngươi biến thành hang ổ của bọn trộm cướp". Sau đó, Giêsu bị bắt giữ theo lệnh của Toà Công luận (
Sanhedrin
) bởi viên Thượng tế
Joseph Caiaphas
. Trong bóng đêm của khu
vườn Getsemani
ở ngoại ô Jerusalem, lính La Mã nhận diện Giêsu nhờ cái hôn của
Judas Iscariot
, một môn đồ đã phản ông để nhận được tiền.
Tòa công luận cáo buộc Giêsu tội phạm thượng và giao ông cho các quan chức Đế quốc La Mã để xin y án tử hình, không phải vì tội phạm thượng nhưng vì cáo buộc xúi giục nổi loạn. Dưới áp lực của giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái, Tổng đốc
Pontius Pilatus
(Philatô) miễn cưỡng ra lệnh đóng đinh Giêsu. Tuy nhiên, theo các sách Phúc Âm, một tấm bảng có hàng chữ viết tắt
INRI
(của câu: "Giêsu người Nazareth, vua dân Do Thái") được treo trên thập tự giá theo lệnh của Pilate.
Sau khi Giêsu chết,
Giuse người Arimathea
đến gặp Pilate và xin được phép chôn với sự chứng kiến của
Maria
Maria Magdalena
và những phụ nữ khác.
Phục sinh và Lên Trời
Bài chi tiết:
Sự phục sinh của Giêsu
Xem thêm:
Giêsu tái lâm
Chúa Giêsu hiện lên với Maria Madalena
, tranh 1835 do
Alexander Andreyevich Ivanov
vẽ.
Các
Kitô hữu
tin rằng Giêsu
sống lại
vào ngày thứ ba sau khi chết trên thập tự giá. Sự kiện này được đề cập đến theo thuật ngữ Kitô giáo là
sự phục sinh của Giêsu
, được cử hành hằng năm vào ngày
Lễ Phục sinh
Trong Kinh Thánh,
Maria Madalena
(đi một mình trong Phúc Âm Gioan nhưng có những người phụ nữ khác đi cùng trong
Phúc Âm Nhất Lãm
) đến ngôi mộ của Giêsu vào sáng sớm ngày Chủ nhật và bất ngờ thấy ngôi mộ rỗng. Mặc dù đã nghe lời dạy của Chúa Giêsu, các môn đệ vẫn không hiểu rằng Chúa Giêsu sẽ trỗi dậy.
Trong Phúc Âm Mátthêu, có các lính canh ở ngôi mộ. Một thiên thần từ trời xuống và mở ngôi mộ, khiến lính canh ngất vì hoảng sợ. Giêsu hiện ra với hai bà Maria. Sau đó, Giêsu hiện ra với mười một môn đệ còn lại, truyền lệnh cho họ đi rao giảng và rửa tội cho muôn dân nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.
Trong Phúc Âm Máccô,
Maria Madalena
và
Maria
, mẹ của Giacobê, và
Salome
khi đến thăm mộ với thuốc thơm để xức xác ông (theo tục lệ thời ấy) thì chỉ thấy ngôi mộ trống mà trước đó họ đã an táng ông trong đó. Về phần các Tông đồ, thì họ ra đi giảng đạo khắp mọi nơi, Chúa cùng đi với các Tông đồ, và lấy các phép lạ cặp theo lời giảng mà làm cho vững đạo. Và Giêsu luôn ở cùng các ông cho đến ngày tận thế.
Phúc Âm Gioan thuật rằng khi Maria Madalena đến bên ngôi mộ trống thì thấy hai
thiên sứ
mặc áo trắng. Hai thiên sứ hỏi: "Hỡi người đàn bà kia, sao ngươi khóc? Người thưa rằng: Vì người ta đã dời Chúa tôi đi, không biết để Ngài ở đâu". Vừa nói xong người đàn bà quay lại, thấy Đức Chúa Giêsu tại đó; nhưng chẳng biết ấy là Đức Chúa Giêsu. Các sách Phúc Âm và
Công vụ
đều ghi nhận rằng Giêsu đã gặp lại các môn đệ tại các nơi chốn khác nhau trong suốt bốn mươi ngày trước khi về trời.
Hầu hết Kitô hữu chấp nhận câu chuyện phục sinh, như được ký thuật trong Tân Ước, là sự kiện lịch sử và xem đây là tâm điểm cho
Đức tin Kitô giáo
của họ mặc dù theo quan điểm của một số tín hữu thuộc trào lưu tự do (
liberalism
), đây chỉ là câu chuyện có tính ẩn dụ. Tuy nhiên lịch sử chứng minh đây là niềm tin bất di dịch của Kitô giáo. Tất cả Kitô hữu tin rằng Giêsu đã làm nhiều dấu kỳ phép lạ và các
tông đồ
được ban cho quyền lực siêu nhiên bởi ơn Chúa Thánh Thần để chữa lành bệnh tật cho nhiều người và nói được nhiều thứ tiếng khác nhau sau khi Giêsu về trời.
Góc độ sử học
Bài chi tiết:
Giêsu lịch sử
Điều tra về Giêsu lịch sử
, và
Diễn dịch hàn lâm về các chi tiết trong Phúc Âm
Xem thêm:
Phê bình Kinh Thánh
Trước
thời kỳ Khai sáng
ở phương Tây, các Phúc Âm được coi như là những tường thuật lịch sử mang tính người thật việc thật. Song giới học giả hiện đại hầu như đều đặt nghi vấn về độ tin cậy của những kinh sách này; họ chủ trương kẻ ra ranh giới giữa Giêsu được tả trong các Phúc Âm và Giêsu thực sự trong lịch sử.
58
Kể từ thế kỷ thứ 18 trở đi, ba cuộc điều tra hàn lâm riêng lẻ về Giêsu lịch sử đã được tiến hành, mỗi đợt một đặc thù và dựa trên các tiêu chí nghiên cứu khác nhau, gắn liền với thời đại riêng.
59
60
Tuy phần đông học giả đồng thuận rằng Giêsu đã từng tồn tại, và cũng đều chấp nhận một số chi tiết cơ bản trong tiểu sử của ông, song chân dung Giêsu được phục dựng theo từng tác giả vẫn khác nhau ít nhiều, và cũng khác hoàn toàn so với ký thuật trong Phúc Âm.
61
62
Judea và Galilee thế kỷ thứ nhất
Xứ
Palestine
thời Giêsu sống
Niên biểu
Hầu hết các học giả đồng ý rằng Giêsu là một
người Do Thái
vùng
Galilea
, sinh vào khoảng đầu
thế kỷ thứ nhất
và qua đời trong khoảng từ năm 30 đến 36
SCN
tại xứ
Judea
, ông chỉ sống và hoạt động tại Galilea và
Judea
chứ không ở nơi khác.
63
64
Các sách Phúc Âm chỉ tập trung vào quãng đời ba năm cuối khi Giêsu sống dưới trần gian, đặc biệt là tuần lễ cuối cùng trước khi bị đóng đinh vào thập giá, nhưng chúng cũng cung cấp một số manh mối liên quan đến năm sinh của Chúa Giêsu. Đoạn Mátthêu 2:1 liên kết sự giáng sinh của Chúa Giêsu với sự cai trị của
Herod Đại đế
- người đã chết vào khoảng năm thứ 4 trước Công nguyên, và đoạn Luca 1:5 viết rằng Herod đã trị vì trước khi Chúa Giêsu giáng sinh, ngoài ra Phúc Âm này còn đề cập đến cuộc điều tra dân số của chính quyền La Mã diễn ra mười năm sau đó. Luke 3:1-2 và 3:23 viết rằng Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ khi ông khoảng ba mươi tuổi, và đó là năm thứ 15 của triều đại Tiberius (khoảng năm 28 hoặc 29 Công Nguyên). Qua những chi tiết này và bằng các phương pháp phân tích khác nhau, hầu hết các học giả đi đến đồng thuận rằng Chúa Giêsu sinh trong khoảng từ năm thứ 6 đến 4 trước Công nguyên,
65
Về thời điểm qua đời, tức là sự kiện ông bị đóng đinh trên cây thập giá, hầu hết các học giả đồng ý rằng sự kiện này xảy ra trong khoảng từ năm 30 đến 33 Công nguyên.
66
67
Các sách Phúc Âm nói rằng sự kiện này xảy ra trong thành xứ
Judea
mà
Pilate
là tổng trấn thuộc quyền
La Mã
khoảng năm 26-36.
68
Người ta tin rằng ngày mà
Phaolô
theo Kitô giáo (ước tính khoảng năm 33-36) có mối liên hệ nào đó đến cho ngày Chúa Giêsu bị đóng đinh qua việc phân tích thư của Thánh Phaolô và Sách Công vụ Tông đồ.
69
Các nhà thiên văn từ thời
Isaac Newton
đã cố gắng ước lượng chính xác ngày Chúa Giêsu bị đóng đinh bằng cách phân tích chuyển động của
Mặt Trăng
và tính theo lịch sử của
lễ Vượt Qua
theo lịch của người Do Thái. Và ngày giả thiết được chấp nhận rộng rãi nhất theo phương pháp này là ngày 7 tháng 4, năm 30 AD; và ngày 3 tháng 4 năm 33 (kể cả
lịch Julius
).
Di sản
Theo hầu hết các giải thích
Kinh Thánh
của Kitô giáo, các chủ đề cơ bản của những lời răn dạy của Giêsu là sự hối cải,
tình yêu vô điều kiện
, tha thứ tội lỗi và khoan dung và về Thiên đường.
70
Khởi đầu như một giáo phái nhỏ của người Do Thái,
71
nó đã phát triển và trở thành một tôn giáo riêng biệt so với
đạo Do Thái
vài thập kỷ sau cái chết của Giêsu. Kitô giáo đã lan rộng ra khắp
đế chế La Mã
dưới dạng được biết đến qua
Tín điều Nicea
và trở thành
quốc giáo
dưới thời
Theodosius I
. Qua hàng thế kỷ, nó lan rộng đến hầu hết châu Âu và trên toàn thế giới.
C. S. Lewis
và
Giáo hoàng Gioan Phaolô II
đã bảo vệ niềm tin vào Giêsu trước những sự chỉ trích mang tính lịch sử.
Nhận định
Kitô giáo
Hầu hết
Kitô hữu
tin rằng, Giêsu là
Thiên Chúa
, là
Đấng Messiah
mà sự xuất hiện đã được tiên báo trong
Cựu Ước
. Họ tin rằng Giêsu là
Thiên Chúa
hóa thân thành
người
, là Ngôi Hai trong
Ba Ngôi
; rằng Giêsu nhập thể bởi quyền phép
Chúa Thánh Thần
, xuống thế gian để
cứu
nhân loại khỏi
tội lỗi
và sự chết bởi máu của Giêsu đã đổ ra khi bị
đóng đinh
trên
thập tự giá
như là sinh tế chuộc tội cho loài người. Họ cũng tin rằng Giêsu đã
sống lại từ cõi chết
và sau đó trở lại
Thiên Đàng
Hồi giáo
Khác với
đức tin
của người Kitô giáo,
tín đồ Hồi giáo
tin rằng, Giêsu là một trong những
nhà tiên tri
ngôn sứ
) đáng được tôn trọng, được Thiên Chúa sai đến và là
Đấng Messiah
; nhưng họ không tin Giêsu là "Con Thiên Chúa". Họ cũng không tin về sự chết và sự phục sinh của Giêsu, xem đó chỉ là sự hóa phép của Thiên Chúa dành cho tiên tri Giêsu để đánh lừa người đương thời. Sau đó, Giêsu về trời cả hồn lẫn xác.
Do Thái giáo
Do Thái giáo
thì cực lực phản đối cả hai niềm tin của hai tôn giáo trên. Họ không xem Giêsu là Thiên Chúa xuống thế làm người cũng không nhận đó là nhà tiên tri, thậm chí coi đó là nhà tiên tri giả hay kẻ xúc phạm đến Thiên Chúa của họ. Họ cho rằng, kể từ sau sự sụp đổ lần thứ hai của
Đền thờ Jerusalem
, không có một tiên tri nào xuất hiện thêm nữa. Cho đến tận bây giờ, họ vẫn đang hy vọng có một
Đấng Messiah
từ trời xuống.
Phật giáo
Phật giáo
hầu như không đưa ra nhận định về vai trò của Giêsu trong tôn giáo họ. Đối với họ, dựa theo
lịch sử
, Giêsu chỉ là một con người. Tuy nhiên, một số tín đồ thuộc một số phái cho rằng, với những đức tính hiển nhiên của Giêsu, chắc chắn sau đó Giêsu cũng được sinh vào cõi trời dựa theo luật
nhân quả
. Do đó, những người tu theo Phật giáo cấp tiến, nhất là
Tịnh độ tông
, có thể tôn kính Giêsu như một vị
A-la-hán
hay
Bồ tát
72
Một số
Phật tử
, trong đó có
Tenzin Gyatso, Đạt-lại Lạt-ma thứ 14
73
xem Giêsu như một vị đại
Bồ tát
, người cống hiến đời mình cho hạnh phúc của nhân loại.
Nga Sơn Thiều Thạc
ở thế kỷ XIV của
Tào Động tông
ngụ ý rằng những lời dạy của Giêsu trong
Sách Phúc Âm
do một người đã được giải thoát (arahant) viết.
74
Khác
Một
người Nhật
theo
chủ nghĩa vô chính phủ
Kōtoku Shūsui
có viết tác phẩm
Kirisuto Massatsuron
(基督抹殺論,
Cơ Đốc Mạt Sát Luận
). Trong tác phẩm này, Shūsui cho rằng Giêsu chỉ là một nhân vật thần thoại và không có thực.
75
76
Vì có vai trò đặc biệt trong một số tôn giáo này, Giêsu được nhìn nhận là một trong những nhân vật quan trọng nhất và có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong
lịch sử nhân loại
Xem thêm
Cuộc đời Giêsu theo Tân Ước
Sự giáng sinh của Giêsu
Các dụ ngôn của Chúa Giêsu
Tiệc Ly
Cuộc thương khó
và
khổ hình của Giêsu
Sự phục sinh của Giêsu
Chúa Cha
Chúa Thánh Linh
Kitô giáo
Cứu rỗi
Mười hai sứ đồ
Những người xưng là Giê-su
Ghi chú
Meier (1991
:407) cho rằng Giêsu sinh vào khoảng năm 7 hoặc 6
TCN.
Rahner (2004
:732) khẳng định rằng đồng thuận trong giới học thuật Kitô giáo là năm 4 TCN.
Sanders (1993
:10–11) cũng cho rằng ngày sinh của Giêsu là năm 4 TCN và cũng cho rằng đây là đồng thuận số đông.
Finegan (1998
:319) dựa trên bằng chứng truyền thống Kitô thuở sớm để củng cố cho giả thuyết niên đại k.
3 hoặc 2
TCN
tiếng Hy Lạp cổ
Ἰησοῦς
đã Latinh hoá:
Iēsoús
, có lẽ bắt nguồn từ
tiếng Hebrew
hoặc
tiếng Aram
יֵשׁוּעַ
đã Latinh hoá:
Yēšūaʿ
tiếng Copt
Ⲓⲏⲥⲟⲩⲥ Ⲡⲓⲭ́ρⲓⲥτⲟⲥ
tiếng Ge'ez
መሲህ ኢየሱስ
tiếng Hy Lạp cổ
Ἰησοῦς Χριστός
tiếng Hebrew Kinh Thánh
ישוע המשיח
tiếng Latinh
Iesus Christus
tiếng Slav Giáo hội
І҆исоу́съ Хрїсто́съ
tiếng Syriac cổ điển
ܝܫܘܥ ܡܫܺܝܚܳܐ
Trong một bài bình duyệt năm 2011 về tình trạng học thuật hiện nay xung quanh vấn đề Giêsu,
Bart D. Ehrman
viết, "Ông ấy chắc chắn có thật, theo đó gần như tất cả các học giả về thời cổ đại, có đạo Kitô hoặc không có đạo, đều đồng ý."
Richard A. Burridge
khẳng định: "Có những người tranh luận rằng Giêsu là một mảnh tưởng tượng của Giáo Hội, rằng Giêsu không có thật. Tôi phải nói rằng hiện này hầu như không có học giả chuyên nghiệp nào sẽ phát biểu như thế."
Robert M. Price
không tin rằng Giêsu từng tồn tại song vẫn phải thừa nhận rằng quan điểm của mình chống lại số đông.
James D. G. Dunn
gọi các lý thuyết cho rằng Giêsu không tồn tại là "một luận thuyết chết ngắt".
Michael Grant
phát biểu, "Trong những năm gần đây, “không có học giả nghiêm túc nào dám đưa ra giả thuyết rằng Giêsu không có thật trong lịch sử”, hoặc chí ít thì chỉ có rất ít người làm như vậy, và họ đã không thành công trong việc bác bỏ những bằng chứng ngược lại mạnh mẽ hơn rất nhiều, thậm chí là vô cùng phong phú."
Robert E. Van Voorst
cho rằng các học giả kinh thánh và các sử gia cổ điển coi các lý thuyết về sự không tồn tại của Giêsu đã bị bác bỏ.
Viết cho tờ
The Daily Beast
Candida Moss
và Joel Baden khẳng định rằng, "có đồng thuận gần như phổ quát trong giới học thuật Kinh thánh
– ít nhất là những học giả uy tín
– rằng Giêsu là một người có thật."
Powell viết: "[Paul] does cite words or instructions of Jesus in a few places,
34
but for the most part he displays little interest in the details of Jesus' earthly life and ministry."
35
So sánh
Matthew 1:6–16
và
Luke 3:23–31
. Xem thêm
Phả hệ của Giêsu §
So sánh giữa hai phả hệ
Để có cái nhìn tổng quan về vấn đề này, xem
Phả hệ của Giêsu §
Giải thích cho sự đa dạng
Chú thích
Brown 1977
, tr.
513.
Vermes 1981
, tr.
20, 26, 27, 29.
Ehrman 2011
, tr.
285
Burridge, Richard A.; Gould, Graham (2004).
Jesus Now and Then
. Wm. B. Eerdmans. tr.
34
ISBN
978-0-8028-0977-3
Price, Robert M. (2009).
"Jesus at the Vanishing Point"
. Trong Beilby, James K.; Eddy, Paul R. (biên tập).
The Historical Jesus: Five Views
. InterVarsity. tr.
55, 61.
ISBN
978-0-8308-7853-6
Lưu trữ
bản gốc ngày 7 tháng 9 năm 2015
. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2015
Sykes, Stephen W. (2007). "Paul's understanding of the death of Jesus".
Sacrifice and Redemption
. Cambridge University Press. tr.
35–
36.
ISBN
978-0-521-04460-8
Grant, Michael (2004).
Jesus
. Phoenix. tr.
200.
ISBN
978-0-684-14889-2
Van Voorst 2000
, tr.
16.
Moss, Candida
; Baden, Joel (ngày 5 tháng 10 năm 2014).
"So-Called 'Biblical Scholar' Says Jesus a Made-Up Myth"
The Daily Beast
Lưu trữ
bản gốc ngày 5 tháng 12 năm 2021
. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2021
Powell 1998
, tr.
168–173.
Bowman Jr.
Komoszewski 2019
, tr.
22–23.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFBowman_Jr.Komoszewski2019 (
trợ giúp
Evans, Craig A. (1993).
"Life-of-Jesus Research and the Eclipse of Mythology"
(PDF)
Theological Studies
54
13–
14.
Sanders 1993
, tr.
11.
Sanders 1993
, tr.
11, 14.
Sanders, Ed P.; Pelikan, Jaroslav J.
"Jesus Christ"
Encyclopædia Britannica
. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2013
"Chương 26 -"
thanhlinh.net
"Gioan -"
thanhlinh.net
"Chương 6 -"
thanhlinh.net
Maas, Anthony J. (1913).
"Origin of the Name of Jesus Christ"
. Trong Herbermann, Charles (biên tập).
Catholic Encyclopedia
. New York: Robert Appleton Company.
Ehrman, Bart D. (2012).
Did Jesus Exist?: The Historical Argument for Jesus of Nazareth
. HarperOne. tr.
29.
ISBN
978-0-06-208994-6
"Joshua"
. Merriam-Webster
. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2013
Hare, Douglas (2009).
Matthew
. Westminster John Knox Press. tr.
11.
ISBN
978-0-664-23433-1
France 2007
, tr.
53.
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFFrance2007 (
trợ giúp
1 Corinthians 11:23-26
Blomberg 2009
, tr.
441–42.
Evans 2003
, tr.
465–77.
Acts 10:37–38
và
Acts 19:4
Bruce, Frederick F. (1988).
The Book of the Acts
. Wm. B. Eerdmans Publishing. tr.
362
ISBN
978-0-8028-2505-6
Rausch 2003
, tr.
77.
Acts 1:1–11
Cũng được nhắc đến ở
1 Timothy 3:16
Evans 2003
, tr.
521–30.
1 Corinthians 7:10–11, 9:14, 11:23–25
2 Corinthians 12:9
1 Cor. 7:10–11; 9:14; 11:23–25
2 Cor. 12:9
; cf.
Acts 20:35
Powell, Mark A. (2009).
Introducing the New Testament
. Baker Academic. tr.
248
ISBN
978-0-8010-2868-7
Brown 1997
, tr.
835–40.
Evans, C.A. (2008).
Exploring the Origins of the Bible
. Baker Academic. tr.
154.
Keener 2009
, tr.
56.
Funk, Hoover
The Jesus Seminar 1993
, tr.
3.
Cross
Livingstone 2005
, John, St..
Roberts, Mark D. (2007).
Can We Trust the Gospels?: Investigating the Reliability of Matthew, Mark, Luke, and John
. Crossway. tr.
58.
ISBN
978-1-4335-1978-9
Lưu trữ
bản gốc ngày 7 tháng 9 năm 2015
. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2015
Licona 2010
, tr.
210–21.
Matthew 1
Luke 2
Matthew 1:1–16
Sanders 1993
, tr.
80–91.
Luke 3:23–38
Brown 1978
, tr.
163
France, R.T.
(1985).
The Gospel According to Matthew: An Introduction and Commentary
. Eerdmans. tr.
72.
ISBN
978-0-8028-0063-3
Lưu trữ
bản gốc ngày 29 tháng 2 năm 2020
. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2018
"From David the two lists diverge, as Matthew follows the line of succession to the throne of Judah from Solomon, whereas Luke's list goes through Nathan, ... and converges with Matthew's only for the two names of Shealtiel and Zerubabbel until Joseph is reached."
Mills
Bullard 1998
, tr.
556.
Marsh, Clive; Moyise, Steve (2006).
Jesus and the Gospels
. Clark International. tr.
37.
ISBN
978-0-567-04073-2
Lưu trữ
bản gốc ngày 7 tháng 9 năm 2015
. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2015
Morris 1992
, tr.
26.
Jeffrey, David L. (1992).
A Dictionary of biblical tradition in English literature
. Wm. B. Eerdmans Publishing. tr.
538–
40.
ISBN
978-0-85244-224-1
Lưu trữ
bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2020
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Cox
Easley 2007
, tr.
30–37.
Brownrigg, Ronald (2002).
Who's Who in the New Testament
. Taylor & Francis. tr.
96
–100.
ISBN
978-0-415-26036-7
New Testament Apocrypha, Vol. 1: Gospels and Related Writings
by Wilhelm Schneemelcher and R. Mcl. Wilson
. 1990. tr.
84.
ISBN
066422721X
Robert M. Price
The Incredible Shrinking Son of Man: How Reliable is the Gospel Tradition?
. Prometheus Books
. 2003. tr.
93.
ISBN
978-1591021216
Levine 2006
, tr.
5.
Witherington 1997
, tr.
113.
Powell 1998
, tr.
19–23.
Theissen
Winter 2002
, tr.
5.
Jesus Research: An International Perspective (Princeton-Prague Symposia Series on the Historical Jesus)
by James H. Charlesworth and Petr Pokorny (15 September 2009)
ISBN
978-0-8028-6353-9
pp. 1–2
Green, Joel B.; McKnight, Scot; Marshall, I. Howard (1992).
Dictionary of Jesus and the Gospels
. InterVarsity Press. tr.
442.
ISBN
9780830817771
Borg, Marcus J. (2006).
"The Spirit-Filled Experience of Jesus"
. Trong Dunn, James D. G.; McKnight, Scot (biên tập).
The Historical Jesus in Recent Research
. tr.
303.
ISBN
1-57506-100-7
Dunn 2003
, tr.
324.
Humphreys, Colin J.; Waddington, W. G. (1992).
"The Jewish Calendar, a Lunar Eclipse and the Date of Christ's Crucifixion"
(PDF)
Tyndale Bulletin
. Quyển
43 số
2. tr.
340.
Köstenberger, Kellum
Quarles 2009
, tr.
398.
Green, Joel B. (1997).
The gospel of Luke: New International Commentary on the New Testament Series
. Wm. B. Eerdmans Publishing. tr.
168.
ISBN
978-0-8028-2315-1
Barnett, Paul (2002).
Jesus & the Rise of Early Christianity: A History of New Testament Times
. InterVarsity Press. tr.
21.
ISBN
978-0-8308-2699-5
Sniegocki, John. "
Review of Joseph GRASSI,
Peace on Earth: Roots and Practices from Luke's Gospel
" Collegeville, Minnesota: Liturgical Press, 2004 (repentance, forgiveness);
Bock, Darrell L. "
Major Themes of Jesus' life
", (coming of the Kingdom of God);
Brussat, Frederic and Mary Ann. "
Review of
If Grace Is So Amazing, Why Do not We Like It?,
" (grace);
Hughes, F. A. "
Grace and Truth
", Stem Publishing 1972 (grace)
Duhaime, Jean; Blasi, Anthony J.; Turcotte, Paul-André (2002).
Handbook of early Christianity: social science approaches
. Walnut Creek, Calif: AltaMira Press. tr.
434
ISBN
0759100152
{{
Chú thích sách
}}
: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (
liên kết
"Phật giáo Việt Nam - Phật giáo Việt Nam"
Beverley, James A.,
Hollywood's Idol
, Christianity Today, "Jesus Christ also lived previous lives", he said. "So, you see, he reached a high state, either as a Bodhisattva, or an enlightened person, through Buddhist practice or something like that", Truy cập 20 tháng 4 năm 2007
101 Zen Stories
; #16
基督抹殺論
Lưu trữ
ngày 3 tháng 3 năm 2016 tại
Wayback Machine
Iwanami Shoten, Publishers
website, tiếng Nhật)
Kosaka Masaaki (31 tháng ba 2021).
"Japanese Thought In The Meiji Era Centenary Culture Council Series"
. Pan-Pacific Press
qua Internet Archive.
{{
Chú thích web
}}
Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:
date=
trợ giúp
Thư mục
Hare, Douglas (1993).
Matthew
. Westminster John Knox Press.
ISBN
978-0-664-23433-1
Blomberg, Craig L.
(2009).
Jesus and the Gospels: An Introduction and Survey
. B&H Publishing Group.
ISBN
978-0-8054-4482-7
Lưu trữ
bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2020
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Boring, M. Eugene;
Craddock, Fred B.
(2004).
The people's New Testament commentary
. Westminster John Knox Press.
ISBN
978-0-664-22754-8
Lưu trữ
bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2014
. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2015
Brown, Raymond E. (1977).
The Birth of the Messiah: a commentary on the infancy narratives in Matthew and Luke
. Doubleday.
ISBN
978-0-385-05907-7
Brown, Raymond E. (1978).
Mary in the New Testament
. Paulist Press.
ISBN
978-0-8091-2168-7
Lưu trữ
bản gốc ngày 17 tháng 9 năm 2014
. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2015
Brown, Raymond E.
(1988).
The Gospel and Epistles of John: A Concise Commentary
. Liturgical Press.
ISBN
978-0-8146-1283-5
Brown, Raymond E. (1997).
An Introduction to the New Testament
. Doubleday.
ISBN
978-0-385-24767-2
Carter, Warren
(2003).
Pontius Pilate: portraits of a Roman governor
. Liturgical Press.
ISBN
978-0-8146-5113-1
Lưu trữ
bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2020
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Chilton, Bruce
Evans, Craig A.
(1998).
Studying the Historical Jesus: Evaluations of the State of Current Research
. Brill.
ISBN
978-90-04-11142-4
Lưu trữ
bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2020
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Cox, Steven L.; Easley, Kendell H (2007).
Harmony of the Gospels
. B&H Publishing Group.
ISBN
978-0-8054-9444-0
Lưu trữ
bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2020
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Cross, Frank L.; Livingstone, E.A., biên tập (2005).
Oxford Dictionary of the Christian Church
. Oxford University Press.
ISBN
978-0-19-280290-3
Lưu trữ
bản gốc ngày 15 tháng 5 năm 2019
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Crossan, John D.
; Watts, Richard G. (1999).
Who Is Jesus?: Answers to Your Questions About the Historical Jesus
. Westminster John Knox Press.
ISBN
978-0-664-25842-9
De Smet, Daniel (2016). "Les racines docétistes de l'imamologie shi'ite". Trong Amir-Moezzi, Mohammad Ali; De Cillis, Maria; De Smet, Daniel; Mir-Kasimov, Orkhan (biên tập).
L'Ésotérisme shi'ite, ses racines et ses prolongements – Shi'i Esotericism: Its Roots and Developments
. Bibliothèque de l'Ecole des Hautes Etudes, Sciences Religieuses. Quyển
177. Turnhout: Brepols. tr.
87–
112.
doi
10.1484/M.BEHE-EB.4.01163
ISBN
978-2-503-56874-4
Dickson, John
(2008).
Jesus: A Short Life
. Kregel Publications.
ISBN
978-0-8254-7802-4
Dillenberger, John
(1999).
Images and Relics
: Theological Perceptions and Visual Images in Sixteenth-Century Europe: Theological Perceptions and Visual Images in Sixteenth-Century Europe
. Oxford University Press.
ISBN
978-0-19-976146-3
Donahue, John R.;
Harrington, Daniel J.
(2002).
The Gospel of Mark
. Liturgical Press.
ISBN
978-0-8146-5804-8
Lưu trữ
bản gốc ngày 3 tháng 1 năm 2014
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Doninger, Wendy (1999).
Merriam-Webster's Encyclopedia of World Religions
. Merriam-Webster.
ISBN
978-0-87779-044-0
Dunn, James D.G.
(2003).
Jesus Remembered
. Wm. B. Eerdmans Publishing.
ISBN
978-0-8028-3931-2
Eddy, Paul R.;
Boyd, Gregory A.
(2007).
The Jesus legend: a case for the historical reliability of the synoptic Jesus tradition
. Baker Academic.
ISBN
978-0-8010-3114-4
Lưu trữ
bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2020
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Ehrman, Bart
(1999).
Jesus: Apocalyptic Prophet of the New Millennium
. Oxford University Press.
ISBN
978-0-19-983943-8
Ehrman, Bart D. (2009).
Jesus, Interrupted: Revealing the Hidden Contradictions in the Bible (and Why We Don't Know About Them)
. HarperOne.
ISBN
978-0-06-117393-6
Ehrman, Bart D. (2014).
How Jesus Became God
. HarperCollins.
ISBN
978-0-06225-219-7
Ehrman, Bart (2011).
Forged: writing in the name of God – Why the Bible's Authors Are Not Who We Think They Are
. HarperCollins.
ISBN
978-0-06-207863-6
Ehrman, Bart D. (2012).
Did Jesus Exist?: The Historical Argument for Jesus of Nazareth
. HarperOne.
ISBN
978-0-06-208994-6
Lưu trữ
bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2020
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Evans, Craig A.
(2003).
The Bible Knowledge Background Commentary: Matthew-Luke
. David C. Cook.
ISBN
978-0-7814-3868-1
Evans, Craig A. (2012a).
Jesus and His World: The Archaeological Evidence
. Westminster John Knox Press.
ISBN
978-0-664-23413-3
Lưu trữ
bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2020
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Evans, Craig A. (2012b).
Matthew (New Cambridge Bible Commentary)
. Cambridge University Press.
ISBN
978-0-521-01106-8
Finegan, Jack (1998).
Handbook of Biblical Chronology
. Hendrickson Publishers.
ISBN
978-1-56563-143-4
Freedman, David N.
(2000).
Eerdmans Dictionary of the Bible
. Amsterdam University Press.
ISBN
978-0-8028-2400-4
Lưu trữ
bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2020
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Friedmann, Yohanan (1989).
Prophecy Continuous: Aspects of Ahmadi Religious Thought and Its Medieval Background
. Berkeley: University of California Press.
ISBN
978-0-520-05772-2
Funk, Robert W.; Hoover, Roy W.;
The Jesus Seminar
(1993).
The Five Gospels
. Scribner.
ISBN
978-0-0254-1949-0
OCLC
819666252
Green, Joel B.
McKnight, Scot
Marshall, I. Howard
(1992).
Dictionary of Jesus and the Gospels
. InterVarsity Press. tr.
442.
ISBN
978-0-8308-1777-1
Lưu trữ
bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2020
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Grudem, Wayne
(1994).
Systematic Theology: An Introduction to Biblical Doctrine
. Grand Rapids, MI: Zondervan.
ISBN
978-0-310-28670-7
Harris, Stephen L. (1985).
Understanding the Bible
. Mayfield.
Houlden, J. Leslie (2006).
Jesus: the complete guide
. Continuum.
ISBN
978-0-8264-8011-8
Lưu trữ
bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2020
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Humphreys, Colin J.; Waddington, W. G. (1992).
"The Jewish Calendar, a Lunar Eclipse and the Date of Christ's Crucifixion"
(PDF)
Tyndale Bulletin
. Quyển
43 số
2. tr.
331–
351.
doi
10.53751/001c.30487
S2CID
189519018
Lưu trữ
(PDF)
bản gốc ngày 21 tháng 4 năm 2019
. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2019
Keener, Craig S. (2009b).
The Gospel of Matthew: A Socio-Rhetorical Commentary
ISBN
978-0-8028-6498-7
Keener, Craig S. (2009).
The Historical Jesus of the Gospels
. William B. Eerdmans Publishing.
Keener, Craig S. (2012).
The Historical Jesus of the Gospels
. William B. Eerdmans Publishing.
ISBN
978-0-8028-6292-1
Köstenberger, Andreas J.; Kellum, L. Scott; Quarles, Charles L (2009).
The Cradle, the Cross, and the Crown: An Introduction to the New Testament
. B&H Publishing Group.
ISBN
978-0-8054-4365-3
Lưu trữ
bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2020
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Lawson, Todd (2009).
The Crucifixion and the Qur'an: A Study in the History of Muslim Thought
. Oxford: Oneworld.
ISBN
978-1-85168-635-3
Lee, Dorothy A.
(2004).
Transfiguration
. Continuum.
ISBN
978-0-8264-7595-4
Lưu trữ
bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2020
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Levine, Amy-Jill
(2006).
"Introduction"
. Trong Levine, Amy-Jill;
Allison, Dale C.
; Crossan, John D. (biên tập).
The Historical Jesus in Context
. Princeton Univ Press.
ISBN
978-0-691-00992-6
Lưu trữ
bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2014
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Levine, Amy-Jill
(2007).
The Misunderstood Jew: The Church and the Scandal of the Jewish Jesus
. Harper-Collins.
ISBN
978-0-06-174811-0
Licona, Michael R. (2010).
The Resurrection of Jesus: A New Historiographical Approach
. InterVarsity Press.
ISBN
978-0-8308-2719-0
Lưu trữ
bản gốc ngày 18 tháng 2 năm 2020
. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2015
Maier, Paul L.
(1989).
"The Date of the Nativity and Chronology of Jesus"
. Trong
Finegan, Jack
; Vardaman, Jerry;
Yamauchi, Edwin M.
(biên tập).
Chronos, kairos, Christos: nativity and chronological studies
. Eisenbrauns.
ISBN
978-0-931464-50-8
Lưu trữ
bản gốc ngày 7 tháng 9 năm 2015
. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2015
Majerník, Ján; Ponessa, Joseph; Manhardt, Laurie W. (2005).
The Synoptics: Matthew, Mark, Luke
. Emmaus Road Publishing.
ISBN
978-1-931018-31-9
Lưu trữ
bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2020
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
McGrath, Alister E.
(2006).
Christianity: An Introduction
. John Wiley & Sons. tr.
4–
6.
ISBN
978-1-4051-0899-7
Lưu trữ
bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2015
. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2015
Meier, John P.
(1991).
A Marginal Jew: The Roots of the Problem and the Person
. Yale University Press.
ISBN
978-0-300-14018-7
Meier, John P. (2006).
"How do we decide what comes from Jesus"
. Trong Dunn, James D.G.; McKnight, Scot (biên tập).
The Historical Jesus in Recent Research
. Eisenbrauns.
ISBN
978-1-57506-100-9
Lưu trữ
bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2020
. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2015
Melton, J. Gordon (2010).
"Ahmad, Mirza Ghulam Hazrat"
. Trong Melton, J. Gordon; Baumann, Martin (biên tập).
Religions of the World: A Comprehensive Encyclopedia of Beliefs and Practices
. Quyển
1 (ấn bản thứ 2). Santa Barbara: ABC-CLIO. tr.
54–
56.
ISBN
978-1-59884-203-6
Lưu trữ
bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2016
. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2015
Mills, Watson E.; Bullard, Roger A. (1998).
Mercer dictionary of the Bible
. Mercer University Press.
ISBN
978-0-86554-373-7
Lưu trữ
bản gốc ngày 18 tháng 10 năm 2017
. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2015
Morris, Leon
(1992).
The Gospel according to Matthew
. Wm. B. Eerdmans Publishing.
ISBN
978-0-85111-338-8
Lưu trữ
bản gốc ngày 2 tháng 8 năm 2020
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Niswonger, Richard L. (1992).
New Testament History
. Zondervan.
ISBN
978-0-310-31201-7
Pannenberg, Wolfhart
(1968).
Jesus – God and Man
. S.C.M. Press.
ISBN
978-0-334-00783-8
Lưu trữ
bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2020
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Powell, Mark A.
(1998).
Jesus as a Figure in History: How Modern Historians View the Man from Galilee
. Westminster John Knox Press.
ISBN
978-0-664-25703-3
Rahner, Karl
(2004).
Encyclopedia of theology: a concise Sacramentum mundi
. Continuum.
ISBN
978-0-86012-006-3
Lưu trữ
bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2020
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Rausch, Thomas P.
(2003).
Who is Jesus?: an introduction to Christology
. Liturgical Press.
ISBN
978-0-8146-5078-3
Lưu trữ
bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2020
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Redford, Douglas (2007).
The Life and Ministry of Jesus: The Gospels
. Standard Publishing.
ISBN
978-0-7847-1900-8
Lưu trữ
bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2020
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Reed, Jonathan L. (2002).
Archaeology and the Galilean Jesus: a re-examination of the evidence
. Continuum.
ISBN
978-1-56338-394-6
Lưu trữ
bản gốc ngày 4 tháng 5 năm 2016
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Robinson, Neal (1991).
Christ in Islam and Christianity
. Albany: State University of New York Press.
ISBN
978-0-7914-0559-8
Robinson, Neal (2005). "Jesus". Trong McAuliffe, Jane Dammen (biên tập).
Encyclopaedia of the Qurʾān
. Brill.
doi
10.1163/1875-3922_q3_EQCOM_00099
Sanders, E.
P.
(1993).
The Historical Figure of Jesus
. Allen Lane Penguin Press.
ISBN
978-0-14-192822-7
Lưu trữ
bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2017
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Theissen, Gerd
Merz, Annette
(1998).
The Historical Jesus
: a Comprehensive Guide
. Fortress Press.
ISBN
978-1-4514-0863-8
Lưu trữ
bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2020
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Theissen, Gerd; Winter, Dagmar (2002).
The Quest for the Plausible Jesus: The Question of Criteria
. Westminster John Knox Press.
ISBN
978-0-664-22537-7
Lưu trữ
bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2020
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Twelftree, Graham H.
(1999).
Jesus the miracle worker: a historical & theological study
. InterVarsity Press. tr.
95
ISBN
978-0-8308-1596-8
Van Voorst, Robert E (2000).
Jesus Outside the New Testament: An Introduction to the Ancient Evidence
. Eerdmans Publishing.
ISBN
978-0-8028-4368-5
Lưu trữ
bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2020
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Vine, William E.
(1940).
Expository Dictionary of New Testament Words
. Fleming H. Revell Company.
ISBN
978-0-916441-31-9
Vermes, Geza
(1981).
Jesus the Jew: A Historian's Reading of the Gospels
. Philadelphia: First Fortress.
ISBN
978-0-8006-1443-0
Lưu trữ
bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2020
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Walvoord, John F.
; Zuck, Roy B. (1983).
The Bible Knowledge Commentary: New Testament
. David C. Cook.
ISBN
978-0-88207-812-0
Lưu trữ
bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2020
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Witherington, Ben
(1997).
The Jesus Quest: The Third Search for the Jew of Nazareth
. InterVarsity Press.
ISBN
978-0-8308-1544-9
Lưu trữ
bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2020
. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020
Liên kết ngoài
Tìm hiểu thêm về
Jesus
tại
các dự án liên quan
Từ điển
từ Wiktionary
Tập tin phương tiện
từ Commons
Tin tức
từ Wikinews
Danh ngôn
từ Wikiquote
Văn kiện
từ Wikisource
Tủ sách giáo khoa
từ Wikibooks
Tài nguyên học tập
từ Wikiversity
Complete Sayings of Jesus Christ
In Parallel Latin & English — The Complete Christ Sayings
Jesus Christ Catholic Encyclopedia article
Christian Foundations: Jesus
articles from a Protestant perspective
The Christ of India
Lưu trữ
ngày 26 tháng 5 năm 2008 tại
Wayback Machine
A Hindu perspective on Jesus
An Islamic perspective on Jesus
Ahmadiyya views on Jesus
Jesus Christ, the Son of God
articles from a Mormon perspective
BiblicalStudies.org.uk
Offers an extensive bibliography plus numerous full-text articles.
Christ, the Messenger
— Swami Vivekananda
Overview of the Life of Jesus
Lưu trữ
ngày 9 tháng 6 năm 2008 tại
Wayback Machine
A summary of New Testament accounts.
From Jesus to Christ
— A
Frontline
documentary on Jesus and early Christianity.
The Jewish Roman World of Jesus
Lưu trữ
ngày 17 tháng 8 năm 2010 tại
Wayback Machine
The Jesus Puzzle
Lưu trữ
ngày 24 tháng 2 năm 2008 tại
Wayback Machine
Earl Doherty
's website.
Nhân vật trong Tân Ước
Sách Phúc âm
Giê-su
Cá nhân
Anphê
Anna
Annas
Baraba
Batimê
Người mù thành Bếtsaiđa
Caipha
Cleopas
Ma quỷ
Dismas
Elizabeth
Gabriel
Gestas
Con gái ông Jairus
Gioakim
Gioanna
Gioan Tẩy Giả
Giuse
Giuse, người Arimathê
Giôsê
Ladarô
Legion
Longinus
Luca
Mankhô
Máccô
Mácta
Maria Madalena
Maria (mẹ Giacôbê và Gioan)
Maria (mẹ Chúa Giêsu)
Maria thành Bêthany
Maria vợ ông Clopas
Người đàn bà ngoại tình
Người phụ nữ Samaria bên giếng nước
Người Thanh niên thành Nain
Nathanael
Nicôđêmô
Salômê
Simêôn
Simon người Kyrênê
Simon người cùi
Susanna
Thêôphilô
Dakêu
Giacaria
Nhóm
Thiên sứ
Môn đệ
Nhóm Hêrôđê
Ba Nhà chiêm tinh
Nhóm Pharisêu
Nhóm Sađốc
Người Samari
70 Môn đệ
Nhóm Nhiệt thành
Tông đồ
Nhóm Mười hai
Anrê
Batôlômêô
Giacôbê, con của Anphê
Giacôbê, con của Zêbêđê
Gioan
Giuđa Ítcariốt
Giuđa Tađêô
Mátthêu
Phêrô
Philípphê
Simon Nhiệt thành
Tôma
Thay thế
Mátthia
Phaolô
Công vụ Tông đồ
Phêrô
Phaolô
Agabus
Ananias (Judaea)
Ananias (Damascus)
Apollos
Aquila
Aristarchus
Bar-jesus
Barnabas
Cornelius
Demetrius
Dionysius
Dorcas
Eutychus
Gamaliel
James the Just
Jason
Joseph Barsabas,
Judas of Galilee
Lucius
Luca
Lydia
Manahen
Máccô
Mary mother of J. Mark
Nicholas
Phaolô
Philípphê
Priscilla
Publius
Sapphira
Sceva
Seven Deacons
Silas
Silvanus
Simeon of Jerusalem
Simon the Sorcerer
Sopater
Stêphanô
Theudas
Timôthê
Titô
Trophimus
Tychicus
Người cai trị
Theo Phúc âm
Aretas IV
Cornelius
Herod Antipas
Herod Archelaus
Herod Philip II
Hêrôđê Cả
Longinus
Lysanias
Phongxiô Philatô
Vợ của Philatô
Quirinius
Salome
Tiberius
Theo Công vụ
Agrippa I
Agrippa II
Felix
Claudius Lysias
Junius A. Gallio
Festus
Sergius Paulus
Nhân vật trong các
Thánh Thư
Nonapocalyptic
Achaichus
Alexander
Archippus
Crescens
Diotrephes
Epaphroditus
Erastus
Hymenaeus
Jesus Justus
Junia
Mary
Angel Michael
Nymphas
Philemon
Philetus
Phoebe
Syntyche
Khải Huyền
Antipa
Bốn Con Vật
Avátđôn
Two Witnesses
Người Phụ Nữ và Con Mãng Xà
Con Thú
Three Angels
Con Điếm thành Babylon
Danh sách đầy đủ
Giê-su
: (
Sứ vụ
Phép lạ
Các dụ ngôn
Niên đại theo Tân Ước
Tân Ước
Quy điển Tân Ước
Phúc Âm
Phúc Âm Nhất Lãm
Các thư tín
Các thư tín của Phao-lô
Các thư tín chung
Kitô giáo ở thế kỷ I
Cổng thông tin
Cơ Đốc giáo
Cơ sở dữ liệu tiêu đề chuẩn
Quốc tế
ISNI
VIAF
GND
FAST
WorldCat
Quốc gia
Hoa Kỳ
Pháp
BnF data
Nhật Bản
Úc
Cộng hòa Séc
Nga
Tây Ban Nha
Hà Lan
Na Uy
Đài Loan
Latvia
Croatia
Chile
Greece
Argentina
Hàn Quốc
Thụy Điển
Ba Lan
Vatican
Israel
Phần Lan
Catalunya
Học thuật
CiNii
ORCID
Nghệ sĩ
ULAN
MusicBrainz
KulturNav
FID
Nhân vật
Trove
Deutsche Biographie
DDB
Khác
IdRef
Lexicon Istoric Retic
NARA
SNAC
Te Papa (New Zealand)
İslâm Ansiklopedisi
Lấy từ “
Thể loại
Bài viết có văn bản tiếng Hebrew Kinh Thánh
Các trang có tham khảo phiên bản Kinh Thánh số
Chúa Giê-su
Ba Ngôi
Nhân vật Kinh Thánh
Sinh thập niên 0
Mất thập niên 30
Nhà lãnh đạo Cơ Đốc giáo
Người sáng lập tôn giáo
Thể loại ẩn:
Khóa hạn chế sửa đổi để tránh phá hoại
Bài cơ bản
Bài viết có văn bản tiếng Hy Lạp cổ (tới 1453)
Bài viết có văn bản tiếng Hebrew
Bài viết có văn bản tiếng Copt
Bài viết có văn bản tiếng Ge'ez
Bài viết có văn bản tiếng Latinh
Bài viết có văn bản tiếng Slav Giáo hội
Bài viết có văn bản tiếng Syriac cổ điển
Lỗi không có mục tiêu Harv và Sfn
Bài Wikipedia trích dẫn từ Catholic Encyclopedia 1913 có dẫn chiếu từ Wikisource
Bài viết có bản mẫu Hatnote trỏ đến một trang không tồn tại
Bản mẫu Portal-inline có liên kết đỏ đến cổng thông tin
Trang có bản mẫu cổng thông tin trống
Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả
Bản mẫu webarchive dùng liên kết wayback
Lỗi CS1: ngày tháng
Bản mẫu cổng thông tin có liên kết đỏ đến cổng thông tin
Bài cơ bản dài
Giê-su
Thêm đề tài
US