Israel – Wikipedia tiếng Việt
Bước tới nội dung
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nhà nước Israel
Tên bản ngữ
מְדִינַת יִשְׂרָאֵל
tiếng Hebrew
دولة إسرائيل
tiếng Ả Rập
Quốc
kỳ
Quốc huy
Quốc
ca
Hatikvah
הַתִּקְוָה
(tiếng Việt:
"Hi vọng"
Vị trí của Israel (xanh) trên thế giới
Vị trí của Israel (xanh lá cây đậm) trong khu vực
Tổng
quan
Thủ
đô
và thành
phố
lớn
nhất
Jerusalem
công nhận hạn chế
fn 1
31°47′B
35°13′Đ
31,783°B 35,217°Đ
31.783; 35.217
Ngôn
ngữ
chính
thức
Hebrew
Ngôn ngữ được công nhận
Tiếng Ả Rập
fn 2
Sắc
tộc
(2019)
74,2%
Do Thái
20,9%
Ả Rập
4,8%
khác
Tôn giáo
(2019)
74,2%
Do Thái giáo
17,8%
Hồi giáo
2,0%
Kitô giáo
1,6%
Druze
4,4%
khác
Tên dân cư
Người Israel
Chính
trị
Chính phủ
Cộng hòa đại nghị
đơn nhất
Tổng thống
Isaac Herzog
Thủ tướng
Benjamin Netanyahu
Chủ tịch Quốc hội
Amir Ohana
Chánh án
Esther Hayut
Lập
pháp
Quốc hội
Lịch
sử
Độc lập
từ
đế quốc Anh
Tuyên bố thành lập
14 tháng 5 năm 1948
Gia nhập
Liên Hợp Quốc
11 tháng 5 năm 1949
Luật Cơ Bản
1958–2018
Địa

Diện
tích
Tổng cộng
20,770–22,072
km
[a]
hạng
150
8,019–8,522
mi
Mặt
nước
(%)
2,71 (tính đến 2015)
14
Dân
số
Ước
lượng
2025
10.094.000
15
hạng
93
Điều
tra
2022
9.601.720
16
fn 3
Mật
độ
458/km
hạng
29
1.186,2/mi
Kinh
tế
GDP
PPP
Ước
lượng
2025
Tổng
số
569,985 tỷ đô la Mỹ
19
fn 3
hạng
49
Bình quân đầu người
56.435 đô la Mỹ
19
fn 3
hạng
35
GDP
(danh nghĩa)
Ước
lượng
2025
Tổng
số
583,361 tỷ đô la Mỹ
19
fn 3
hạng
26
Bình quân đầu người
57.760 đô la Mỹ
19
fn 3
hạng
16
Đơn
vị
tiền
tệ
Shekel mới
) (
ILS
Thông
tin
khác
Gini
(2021)
37,9
20
trung bình
HDI
(2023)
0,919
21
rất cao
hạng
27
Múi
giờ
UTC
+2
IST
Mùa

DST
UTC
+3
IDT
Cách
ghi
ngày
tháng
יי-חח-שששש
AM
nn-tt-nnnn (
CN
Giao
thông
bên
phải

điện
thoại
+972

ISO
3166
IL
Tên
miền
Internet
.il
Biên giới sau Hiệp định ngừng bắn năm 1949 (
Giới tuyến Xanh
20.770
km² là diện tích Israel theo
Giới tuyến Xanh
. 22.072
km² bao gồm cả
Cao nguyên Golan
(khoảng 1.200
km
(460
dặm
vuông
Anh)) và
Đông Jerusalem
(khoảng 64
km
(25
dặm
vuông
Anh)).
Israel
quốc hiệu là
Nhà nước Israel
là một quốc gia ở vùng
Nam Levant
tại
Tây Á
, nằm trên bờ đông nam của
Địa Trung Hải
và bờ bắc của
Biển Đỏ
. Israel giáp với
Liban
ở phía bắc,
Syria
ở phía đông bắc,
Jordan
ở phía đông, Biển Đỏ ở phía nam,
Ai Cập
ở phía tây nam và Địa Trung Hải ở phía tây. Israel chiếm đóng
Bờ Tây

dải Gaza
của
Nhà nước Palestine
cùng với
Cao nguyên Golan
của Syria. Israel có nhiều đặc điểm địa lý đa dạng.
22
23
Jerusalem
là trụ sở chính quyền và được Israel tuyên bố là thủ đô, nhưng không được quốc tế công nhận.
24
25
26
27
Ngày 29 tháng 11 năm 1947,
Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc
quyết định thông qua phương án phân chia chính thức cho
Lãnh thổ ủy trị Palestine
thành hai nhà nước mới, một của
người Ả Rập
và một của
người Do Thái
, trong khi Jerusalem nằm dưới quyền quản lý của Liên Hợp Quốc dưới hình thức là một chính thể quốc tế.
28
29
Ngày 14 tháng 5 năm 1948,
David Ben-Gurion
tuyên bố thành lập nhà nước Israel.
30
31
32
Thế nhưng, biên giới lại không được xác định rõ ràng.
29
33
Các nước Ả Rập phát động chiến tranh nhằm xóa sổ nhà nước Israel non trẻ.
34
35
Chiến tranh Ả Rập - Israel
bùng phát và Israel chiến thắng.
36
Sau đó, Israel tiếp tục chiến thắng trong
chiến tranh Sáu Ngày

chiến tranh Yom Kippur
37
Ngày nay, Israel là một trong những quốc gia sáng tạo
38
và có tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới.
39
Mặc dù không xác nhận nhưng Israel được cho là đã sở hữu
vũ khí hạt nhân
40
41
42
Israel là một
đồng minh không thuộc NATO
của
Hoa Kỳ
Tên gọi
sửa
sửa mã nguồn
Tên gọi "Israel" bắt nguồn từ
Kinh thánh Hebrew
, theo đó, Tổ phụ
Jacob
đã được đổi tên thành Israel sau khi vật lộn với thiên thần của
Đức Chúa Trời
43
Đồng thời, hậu duệ của Jacob cũng được gọi là "
con cái của Israel
", trong
tiếng Anh
gọi là "Israelites". Các
công dân của nước Israel
hiện đại ngày nay, theo tiếng Anh, được gọi là "Israelis".
Sau khi vua
Solomon
(973 - 937 TCN) (còn nhiều tranh cãi về niên đại chính xác) băng hà,
Vương quốc Israel Thống nhất
bị chia đôi thành:
Vương quốc Israel (Samaria)
ở miền bắc và
Vương quốc Judah
ở miền nam. Danh từ Judah được phiên âm Hán Việt là "Do Thái". Nước Israel ở phía bắc có thủ đô là Samaria, tồn tại đến năm 721 TCN thì bị
Đế quốc Assyria
(nay ở miền bắc Iraq) tiêu diệt. Nước Judah ở phía nam có thủ đô là Jerusalem, tồn tại đến năm 587 TCN thì bị
Đế quốc Tân Babylon
(nay ở miền nam
Iraq
) tiêu diệt.
Lịch sử
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Lịch sử Israel
Thời kỳ Cổ đại
sửa
sửa mã nguồn
Bản đồ Vương quốc Israel (1020 TCN–930 TCN), được hình dung từ tường thuật trong Kinh Thánh.
Khái niệm về "Vùng đất Israel", gọi là Eretz Yisrael trong tiếng Hebrew, trở nên quan trọng và thiêng liêng đối với người Do Thái từ thời kỳ Kinh Thánh. Theo Kinh
Torah
, Thượng đế đảm bảo vùng đất cho ba tộc trưởng của người Do Thái.
44
45
Trên cơ sở kinh thánh, thời kỳ ba tộc trưởng được xác định là khoảng đầu thiên niên kỷ thứ 2 TCN,
46

Vương quốc Israel
thứ nhất được thành lập vào khoảng thế kỷ XI TCN. Các vương quốc và nhà nước Israel sau đó cai trị không liên tục trong bốn thế kỷ tiếp sau, và được đề cập trong nhiều nguồn ngoài kinh thánh.
47
48
49
50
Ghi chép đầu tiên về tên gọi Israel (với dạng
ysrỉꜣr
) xuất hiện trong
Bia Merneptah
, được dựng cho
Pharaoh
Merneptah
của Ai Cập vào khoảng năm 1209 TCN.
51
"Israel" này là một thực thể văn hóa và có lẽ là chính trị của cao địa trung tâm, đủ vững chắc để người Ai Cập xem là một thách thức khả dĩ đối với quyền bá chủ của họ, song là một dân tộc thay vì là một nhà nước có tổ chức;
52
Tổ tiên của người Israel có thể gồm người Semit bản địa của
Canaan
và Liên minh
Hải nhân
53
Cấu trúc Đá Lớn tại
Thành phố của David
là một di chỉ khảo cổ học về Jerusalem cổ đại.
Các ngôi làng có dân số đến 300 hoặc 400,
54
55
họ sống bằng nghề trồng trọt và chăn nuôi, và phần lớn là tự cung tự cấp;
56
trao đổi kinh tế là điều phổ biến.
57
Người ta biết đến chữ viết và có thể dùng để ghi chép, thậm chí tại các di chỉ nhỏ.
58
Bằng chứng khảo cổ học cho thấy một xã hội gồm các trung tâm giống như làng, song với tài nguyên hạn chế hơn và dân số nhỏ.
59
Học giả hiện đại nhìn nhận Israel xuất hiện trong hòa bình và nội bộ, từ cư dân hiện hữu tại cao địa Canaan.
60
Khoảng năm 930 TCN, vương quốc bị phân chia thành
Vương quốc Judah
tại miền nam và
Vương quốc Israel
tại miền bắc. Từ giữa thế kỷ VIII TCN, Israel ngày càng xung đột với
Đế quốc Tân Assyria
đang bành trướng. Dưới thời
Tiglath-Pileser III
, đế quốc này ban đầu phân chia lãnh thổ Israel thành một vài đơn vị nhỏ hơn và sau đó phá hủy thủ đô Samaria (722 TCN). Một cuộc khởi nghĩa của người Israel (724–722 TCN) bị dẹp tan sau khi Quốc vương Assyria
Sargon II
bao vây và chiếm lĩnh
Samaria
. Con trai của Sargon là
Sennacherib
nỗ lực bất thành nhằm chinh phục Judah. Ghi chép của Assyria viết rằng ông ta san bằng 46 thành và bao vây Jerusalem, rời đi sau khi nhận được cống nạp lớn.
61
Năm 586 TCN, Quốc vương
Nebuchadnezzar II
của
Babylon
chinh phục Judah. Theo Kinh Thánh Hebrew, ông ta phá hủy
Đền Solomon
và đày người Do Thái đến Babylon. Thất bại này của Judah cũng được người Babylon ghi lại.
62
63
Năm 538 TCN,
Cyrus Đại đế
của
Ba Tư
chinh phục Babylon và tiếp quản đế quốc này. Cyrus ra tuyên cáo rằng cấp cho các dân tộc bị chinh phục (gồm người Judah) quyền tự do tôn giáo. Theo Kinh Thánh Hebrew, có 50.000 người Judea dưới quyền lãnh đạo của
Zerubabel
trở về đến Judah và tái thiết đền thờ. Một nhóm thứ hai dưới quyền lãnh đạo của
Ezra

Nehemiah
trở về đến Judah vào năm 456 TCN bất chấp việc có những người phi Do Thái viết thư cho Cyrus nhằm ngăn chặn động thái này.
Chiến tranh và chia cắt
sửa
sửa mã nguồn
Pháo đài
Masada
là nơi diễn ra trận chiến cuối cùng trong
Chiến tranh Do Thái–La Mã
Khu vực liên tục nằm dưới quyền cai quản của Ba Tư, được phân chia giữa tỉnh Syria-Coele và sau đó là Yehud Medinata tự trị, và dần phát triển trở lại thành xã hội đô thị, phần lớn do người Judea chi phối. Các cuộc chinh phục của người Hy Lạp phần nhiều là tràn qua khu vực mà không gặp phải kháng cự. Miền nam Levant được hợp nhất vào
Ptolemaios
rồi
Seleukos
, và bị Hy Lạp hóa mạnh mẽ, gây căng thẳng giữa người Judea và người Hy Lạp.
Khởi nghĩa Maccabe
bùng phát vào năm 167 TCN, khởi nghĩa thành công và
Vương quốc Hasmoneus
độc lập được lập nên tại Judah. Vương quốc này sau đó bành trướng ra phần lớn Israel ngày nay, trong bối cảnh Seleukos dần đánh mất quyền kiểm soát trong khu vực.
Đế quốc La Mã
xâm chiếm khu vực vào năm 63 TCN, ban đầu họ nắm quyền kiểm soát Syria, và sau đó can thiệp nội chiến tại Hasmoneus. Đấu tranh giữa các phái thân La Mã và thân
Parthia
tại Judea cuối cùng dẫn đến việc
Herodes Đại vương
đăng cơ và củng cố Vương quốc Herod với vị thế là một nhà nước Judea chư hầu của La Mã.
Khi thế lực Herod suy yếu, Judea lúc này có vị thế là một tỉnh của La Mã, trở thành nơi diễn ra đấu tranh bạo lực của người Do Thái chống lại người Hy Lạp-La Mã, lên đến cực điểm là các cuộc chiến Do Thái-La Mã, kết thúc trong tàn phá, trục xuất và diệt chủng quy mô lớn. Sự hiện diện của người Do Thái trong khu vực thu hẹp đáng kể sau thất bại của Khởi nghĩa Bar Kokhba chống La Mã vào năm 132 CN.
64
Tuy thế, có một lượng nhỏ người Do Thái hiện diện liên tục và
Galilee
trở thành trung tâm tôn giáo của họ.
65
66
Các văn bản trung tâm của người Do Thái là
Mishnah
và một phần của
Talmud
được soạn thành trong các thế kỷ thứ hai đến thứ tư CN tại Tiberias và Jerusalem.
67
Thành phần dân cư trong khu vực lúc đó chủ yếu là người Hy Lạp-La Mã tại duyên hải và người Samaria tại vùng đồi núi.
Cơ Đốc giáo
dần phát triển hơn dị giáo La Mã khi khu vực nằm dưới quyền cai quản của
Byzantine
. Trong thế kỷ V và VI, các cuộc khởi nghĩa của người Samaria tái định hình khu vực, khiến xã hội Cơ Đốc giáo Byzantine và xã hội Samaria bị tàn phá nghiêm trọng và dẫn đến suy giảm dân số. Sau khi Ba Tư chinh phục và lập ra Thịnh vượng chung Do Thái đoản mệnh vào năm 614, Byzantine tái chinh phục khu vực vào năm 628.
Trung Cổ và cận đại
sửa
sửa mã nguồn
Kfar Bar'am
là một làng Do Thái cổ đại, bị bỏ hoang vào khoảng từ thế kỷ thứ VII-XIII.
68
Năm 634–641, khu vực bị
người Ả Rập
chinh phục, họ là một dân tộc mới chấp nhận
Hồi giáo
. Khu vực nằm dưới quyền cai quản của người Hồi giáo trong 1.300 năm sau đó dưới nhiều triều đại khác nhau.
69
Quyền kiểm soát khu vực được chuyển giao giữa các Khalip
Rashidun
Umayyad
69
Abbas
69
Fatima
Seljuk
, quân Thập tự chinh, và
Ayyub
trong suốt sáu trăm năm đầu,
69
đến năm 1260 thì bị
Vương triều Mamluk
chinh phục.
70
Trong
Thập tự chinh thứ nhất
, khi
Jerusalem bị vây
vào năm 1099, cư dân Do Thái trong thành chiến đấu bên phía quân đồn trú Fatima và cư dân Hồi giáo. Đến khi thành thất thủ, khoảng 60.000 người bị tàn sát, trong đó có 6.000 người Do Thái tìm cách tị nạn trong một thánh đường Do Thái giáo.
71
Đương thời là tròn một nghìn năm sau khi nhà nước Do Thái sụp đổ, các cộng đồng Do Thái hiện diện khắp khu vực. 50 trong số cộng đồng đó được biết đến và gồm có Jerusalem,
Tiberias
Ramleh
Ashkelon
Caesarea
, và
Gaza
72
Năm 1165, nhà triết học người Do Thái sinh tại Tây Ban Nha ngày nay là
Maimonides
đến thăm Jerusalem và cầu nguyện tại
Núi Đền
73
Năm 1141, nhà thơ Do Thái Tây Ban Nha
Yehuda Halevi
ra lời kêu gọi người Do Thái di cư đến Vùng đất Israel. Năn 1187, Sultan
Saladin
của
Vương triều Ayyub
đánh bại quân Thập tự chinh trong
Trận Hattin
và sau đó chiếm lĩnh Jerusalem và hầu như toàn bộ Palestine. Đương thời, Saladin ra tuyên cáo mời người Do Thái trở về và định cư tại Jerusalem.
74
Thánh đường Abuhav có từ thế kỷ XV, do người Do Thái Sephardic xây dựng tại Safed, phía bắc Israel.
75
Năm 1211, cộng đồng Do Thái trong khu vực được tăng cường khi có thêm một nhóm dưới quyền lãnh đạo của trên 300 giáo sĩ đến từ Pháp và Anh.
76
Nachmanides
là một giáo sĩ Do Thái Tây Ban Nha thế kỷ XIII, và là thủ lĩnh được công nhận của dân Do Thái, ông hết sức tán dương Vùng đất Israel và nhìn nhận việc định cư tại đó là một giới mệnh tuyệt đối của toàn bộ người Do Thái. Ông viết rằng: "Nếu người ngoại đạo muốn kiến tạo hòa bình, chúng ta sẽ kiến tạo hòa bình và để chúng trong các điều khoản rõ ràng; song đối với đất đai, chúng ta sẽ không để nó vào tay họ, hay vào tay bất kỳ dân tộc nào, không vào bất kỳ thế hệ nào."
77
Năm 1260, quyền kiểm soát khu vực thuộc về các sultan Mamluk tại Ai Cập. Khu vực nằm giữa hai trung tâm quyền lực của Mamluk là
Cairo

Damascus
, và chỉ có một số bước phát triển dọc tuyến đường bưu chính liên kết hai thành phố. Jerusalem dù không còn tường thành nào bảo vệ kể từ năm 1219, song cũng chứng kiến bùng nổ các dự án xây dựng tập trung quanh tổ hợp
Thánh đường Al-Aqsa
Núi Đền
). Năm 1266, Sultan Mamluk
Baybars
chuyển đổi Hang các Tộc trưởng tại
Hebron
thành một nơi tôn nghiêm của riêng Hồi giáo và cấm chỉ tín đồ Cơ Đốc giáo và Do Thái giáo bước vào, dù trước đó họ có thể tự do vào hang. Lệnh cấm duy trì cho đến khi Israel giành quyền kiểm soát công trình vào năm 1967.
78
79
Năm 1470, Isaac b. Meir Latif đến từ
Ancona
và đếm được 150 gia đình Do Thái tại Jerusalem.
80
Giáo sĩ Joseph Saragossi đến vào những năm cuối của thế kỷ XV, nhờ có công lao của ông mà Safed và khu vực xung quanh phát triển thành nơi tập trung lớn nhất của người Do Thái tại Palestine. Nhờ các di dân Do Thái Sephardic từ Tây Ban Nha, dân số Do Thái đã tăng lên 10.000 vào đầu thế kỷ XVI.
81
Năm 1516, khu vực bị
Đế quốc Ottoman
chinh phục; và duy trì nằm dưới quyền kiểm soát của người Thổ cho đến khi kết thúc
Chiến tranh thế giới thứ nhất
, khi Anh Quốc đánh bại Ottoman và lập một chính quyền quân sự cai quản khu vực Syria của Ottoman trước kia. Năm 1920, Syria thuộc Ottoman cũ bị phân chia giữa Anh và Pháp theo hệ thống ủy trị, và khu vực do Anh cai quản bao gồm Israel ngày nay và có tên gọi
Lãnh thổ Ủy trị Palestine
70
82
83
Chủ nghĩa phục quốc Do Thái và Anh Quốc cai quản
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Chủ nghĩa phục quốc Do Thái
Theodor Herzl
là nhà viễn kiến của quốc gia Do Thái
Từ khi xuất hiện cộng đồng Do Thái tha hương đầu tiên, nhiều người Do Thái đã mong mỏi trở về "Zion" và "Vùng đất Israel",
84
Hy vọng và khao khát của người Do Thái sống lưu vong là một đề tài quan trọng trong hệ thống đức tin Do Thái.
85
Sau khi người Do Thái bị trục xuất khỏi Tây Ban Nha vào năm 1492, một số cộng đồng đến định cư tại Palestine.
86
Trong thế kỷ XVI, các cộng đồng Do Thái bén rễ tại
Bốn thành phố thánh địa
Jerusalem
Tiberias
Hebron
, và
Safed
, đến năm 1697, Giáo sĩ Yehuda Hachasid dẫn một nhóm gồm 1.500 người Do Thái đến Jerusalem.
87
Trong nửa sau của thế kỷ XVIII, các thành phần đối lập tại Đông Âu của phái
Hasidim
, gọi là Perushim, đến cư trú tại Palestine.
88
89
90
Làn sóng đầu tiên trong quá trình người Do Thái nhập cư thời hiện đại đến Palestine thuộc Ottoman, gọi là Aliyah lần thứ nhất, bắt đầu vào năm 1881 khi người Do Thái tị nạn cuộc tàn sát tại Đông Âu.
91
Mặc dù phong trào phục quốc Do Thái đã hiện diện trên thực tiễn, song nhà báo
Áo-Hung
Theodor Herzl
là người được công nhận có công hình thành chủ nghĩa phục quốc Do Thái về chính trị,
92
phong trào này mưu cầu thành lập một nhà nước Do Thái tại Vùng đất Israel, do đó đề xuất một giải pháp gọi là Vấn đề Do Thái của các quốc gia châu Âu.
93
Năm 1896, Herzl công bố Der Judenstaat (Nhà nước của người Do Thái), đề xuất viễn kiến của ông về một nhà nước Do Thái trong tương lai; đến năm sau ông chủ tọa Đại hội Phục quốc Do Thái lần thứ nhất.
94
Aliyah lần thứ nhì (1904–14) bắt đầu sau
Thảm sát Kishinev
tại
Đế quốc Nga
; có khoảng 40.000 người Do Thái định cư tại Palestine, song gần một nửa trong số đó cuối cùng rời đi.
91
Làn sóng nhập cư thứ nhất và thứ hai chủ yếu là người Do Thái Chính thống,
95
song Aliyah lần thứ hai cũng bao gồm các tổ chức xã hội chủ nghĩa, họ lập ra phong trào cộng đồng tập thể
kibbutz
96
Trong
Chiến tranh thế giới thứ nhất
, Bộ trưởng Ngoại giao Anh
Arthur Balfour
gửi
Tuyên ngôn Balfour
1917 cho một thủ lĩnh cộng đồng Do Thái tại Anh là Walter Rothschild, viết rằng Anh có ý định lập một "quê hương dân tộc" (national home) cho người Do Thái trong Lãnh thổ ủy trị Palestine.
97
98
Người Do Thái tại
Bức tường Phía tây
trong thập niên 1870.
Quân đoàn Do Thái là một tổ chức chủ yếu gồm các tình nguyện viên theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái, họ giúp người Anh chinh phục Palestine vào năm 1918.
99
Người Ả Rập phản đối người Anh cai trị và người Do Thái nhập cư, dẫn đến bạo loạn năm 1920 tại Palestine và hình thành một tổ chức dân quân Do Thái mang tên Haganah, các tổ chức bán quân sự Irgun và Lehi sau đó tách ra từ Haganah.
100
Năm 1922,
Hội Quốc Liên
cấp cho Anh quyền cai trị ủy trị đối với Palestine theo các điều khoản bao gồm cả Tuyên ngôn Balfour và cam kết trong đó với người Do Thái, và với các điều khoản tương tự liên quan đến người Palestine Ả Rập.
101
Đương thời người Ả Rập và Hồi giáo chiếm ưu thế trong thành phần dân tộc của khu vực, người Do Thái chiếm khoảng 11%,
102
và người Cơ Đốc giáo Ả Rập chiếm khoảng 9,5% dân số.
103
Aliyah lần thứ ba (1919–23) và lần thứ tư (1924–29) đưa thêm 100.000 người Do Thái đến Palestine.
91
Cuối cùng, việc
chủ nghĩa quốc xã
xuất hiện và tình trạng gia tăng áp bức người Do Thái tại châu Âu trong thập niên 1930 dẫn đến Aliyah lần thứ năm, với số lượng là 1/4 triệu người Do Thái. Đây là một nguyên nhân chủ yếu khiến người Ả Rập khởi nghĩa trong giai đoạn 1936–39, khi đó nhà cầm quyền Anh tại lãnh thổ cùng với các dân quân phục quốc Do Thái thuộc Haganah và Irgun sát hại 5.032 người Ả Rập và làm bị thương 14.760 người,
104
105
kết quả là trên 10% nam giới trưởng thành người Ả Rập Palestine bị giết, bị thương, bị cầm tù hay lưu đày.
106
Người Anh áp đặt hạn chế trong vấn đề người Do Thái nhập cư đến Palestine bằng Sách trắng 1939. Trước tình hình các quốc gia khắp thế giới quay lưng với người tị nạn Do Thái chạy trốn khỏi
Holocaust
(Đức Quốc Xã diệt chủng người Do Thái), một phong trào bí mật mang tên Aliyah Bet được tổ chức nhằm đưa người Do Thái đến Palestine.
91
Đến cuối
Chiến tranh thế giới thứ hai
, dân số Do Thái tại Palestine tăng lên đến 33% tổng dân số.
107
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai
sửa
sửa mã nguồn
Bản đồ của Liên Hợp Quốc về kế hoạch phân chia Palestine
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Anh nhận thấy bản thân có xung đột mãnh liệt với cộng đồng Do Thái về vấn đề hạn chế người Do Thái nhập cư, cũng như tiếp tục xung đột với cộng đồng Ả Rập về mức độ hạn chế. Các tổ chức Haganah, Irgun và Lehi của người Do Thái cùng tham gia một cuộc đấu tranh vũ trang chống lại sự cai trị của Anh.
108
Đồng thời, hàng trăm nghìn nạn nhân còn sống và người tị nạn diệt chủng Holocaust tìm kiếm cuộc sống mới cách xa khỏi cộng đồng đã bị phá hủy của họ tại châu Âu. Người Do Thái tại Palestine nỗ lực đưa những người tị nạn này đến Palestine song nhiều người bị Anh trục xuất, vây bắt hoặc tống giam tại Atlit và
Síp
Ngày 22 tháng 7 năm 1946, Irgun tấn công trụ sở chính quyền Anh tại Palestine, nằm tại phía nam
109
của Khách sạn King David tại Jerusalem.
110
111
112
Tổng cộng có 91 người thiệt mạng và 46 người bị thương.
113
Cuộc tấn công được cho là nhằm phản ứng trước Chiến dịch Agatha của nhà cầm quyền Anh (nhằm bắt giữ các thành viên phục quốc Do Thái ngầm) và là sự kiện đẫm mẫu nhất đối với người Anh trong thời kỳ cai trị ủy trị (1920–1948).
113
114
Năm 1947, chính phủ Anh tuyên bố họ sẽ triệt thoái khỏi Lãnh thổ ủy trị Palestine, cho rằng không thể đi đến một giải pháp chấp nhận được cho cả người Ả Rập và Do Thái.
Ngày 15 tháng 5 năm 1947,
Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc
quyết định thành lập Ủy ban Đặc biệt Liên Hợp Quốc về Palestine (UNSCOP).
115
Trong báo cáo của ủy ban đề ngày 3 tháng 9 năm 1947 lên Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc,
116
đa số thành viên trong ủy ban tại Chương VI đề xuất một kế hoạch thay thế Lãnh thổ ủy trị của Anh bằng "một nhà nước Ả Rập độc lập, một nhà nước Do Thái độc lập và Thành phố Jerusalem sẽ nằm dưới một Hệ thống Quản thác Quốc tế".
117
Đến ngày 29 tháng 11 năm 1947, Đại Hội đồng phê chuẩn một nghị quyết về kế hoạch phân chia Palestine.
118
Kế hoạch này về cơ bản giống như đề xuất của đa số thành viên UNSCOP vào ngày 3 tháng 9 năm 1947. Cơ quan Do Thái là đại biểu được công nhận của cộng đồng Do Thái, họ chấp thuận kế hoạch này.
Liên đoàn Ả Rập
và Ủy ban Cấp cao Ả Rập Palestine bác bỏ nó, và chỉ ra rằng họ sẽ bác bỏ bất kỳ kế hoạch phân chia nào khác.
119
120
Đến ngày hôm sau, 1 tháng 12 năm 1947, Ủy ban Cấp cao Ả Rập công bố đình công ba ngày, và các toán người Ả Rập bắt đầu tấn công các mục tiêu Do Thái.
121
Người Do Thái ban đầu ở thế phòng thủ khi nội chiến bùng phát, song đến tháng 4 năm 1948 họ chuyển sang thế tấn công.
122
123
Kinh tế của cộng đồng Ả Rập Palestine sụp đổ và 250.000 người Ả Rập Palestine đào thoát hoặc bị trục xuất.
124
David Ben-Gurion công bố
Tuyên ngôn độc lập Israel
vào ngày 14 tháng 5 năm 1948.
Ngày 14 tháng 5 năm 1948, là ngày trước khi kết thúc quyền ủy trị của người Anh, người đứng đầu Cơ quan Do Thái là
David Ben-Gurion
tuyên bố
"thành lập một nhà nước Do Thái tại Eretz-Israel, được gọi là Nhà nước Israel".
125
126
Ám chỉ duy nhất trong văn bản Tuyên ngôn về biên giới của nhà nước mới là sử dụng thuật ngữ Eretz-Israel ("Vùng đất Israel").
127
Ngày hôm sau, quân đội của bốn quốc gia Ả Rập gồm
Ai Cập
Syria
Ngoại Jordan

Iraq
tiến vào
Lãnh thổ ủy trị Palestine
cũ, phát động
Chiến tranh Ả Rập-Israel 1948
128
129
Các đạo quân đến từ
Yemen
Maroc
Ả Rập Xê Út

Sudan
cũng tham chiến.
130
131
Mục đích hiển nhiên của hành động này là ngăn chặn thành lập nhà nước Do Thái vào lúc sơ khởi, và một số nhà lãnh đạo Ả Rập thảo luận về việc đẩy người Do Thái ra biển.
132
133
134
Liên đoàn Ả Rập tuyên bố rằng cuộc xâm chiếm là để vãn hồi pháp luật và trật tự và để ngăn chặn đổ máu thêm.
135
Sau một năm giao chiến, một thỏa thuận đình chiến được công bố và biên giới tạm thời gọi là Giới tuyến Xanh được lập ra.
136
Jordan sáp nhập khu vực được gọi là
Bờ Tây
, bao gồm
Đông Jerusalem
, và Ai Cập nắm quyền cai quản Dải Gaza. Tuy nhiên lợi ích lớn nhất vẫn thuộc về Israel, họ giờ đây đã kiểm soát toàn bộ lãnh thổ đã được dành cho họ theo Kế hoạch Phân chia và đa phần lãnh thổ dành cho người Ả rập cũng như một nửa phía tây thành phố Jerusalem thuộc quyền quản lý của Liên hiệp quốc. Theo ước tính của Liên Hợp Quốc, khoảng 700.000 tới 750.000 người Palestine đã bị trục xuất hoặc phải bỏ chạy khỏi vùng đất của họ trong giai đoạn 1947-1949. Sự kiện này được gọi là
Nakba
(النكبة, "thảm họa") trong tiếng Ả Rập.
137
138
Nhà sử học Israel Benny Morris, dựa trên hồ sơ quân sự mật được giải mật, xác định nguyên nhân chính của Nakba gồm: các cuộc tấn công trực tiếp của lực lượng Haganah, Irgun và Lehi - một tổ chức khủng bố - vào các làng Palestine; các vụ thảm sát gây hoảng loạn hàng loạt; và các chiến dịch tâm lý chiến có chủ đích.
139
Điển hình là vụ thảm sát Deir Yassin ngày 9 tháng 4 năm 1948, trong đó lực lượng Irgun và Lehi, được Haganah yểm trợ hỏa lực, tấn công làng và giết hơn 107 dân thường, bao gồm phụ nữ và trẻ em, sau đó diễu hành tù nhân sống sót qua phố trước khi xử bắn.
140
Vụ thảm sát được lan truyền rộng rãi, gieo rắc khủng hoảng tâm lý để khuếch đại làn sóng bỏ chạy trên diện rộng.
141
Ngoài ra, các tài liệu quân sự Israel được giải mật tiết lộ chiến dịch mang mật danh "Cast Thy Bread", trong đó Lực lượng Khoa học (Science Corps) của quân đội Israel đã đầu độc nguồn nước tại các làng Palestine bằng vi khuẩn thương hàn và kiết lị kể từ tháng 4 năm 1948 dưới sự giám sát trực tiếp của Thủ tướng David Ben-Gurion.
142
Những năm đầu của Nhà nước Israel
sửa
sửa mã nguồn
Lễ thượng cờ (10 tháng 3 năm 1949) đánh dấu sự kết thúc của
cuộc chiến tranh năm 1948
Israel được đa số thành viên Liên Hợp Quốc chấp thuận là một thành viên vào ngày 11 tháng 5 năm 1949.
143
Năm 1949, Israel và Jordan chân thành quan tâm đến một thỏa thuận hòa bình song người Anh hãm lại nỗ lực của Jordan để tránh gây hại cho các lợi ích của Anh tại Ai Cập.
144
Trong những năm đầu lập quốc, phong trào Phục quốc Do Thái Lao động do Thủ tướng David Ben-Gurion lãnh đạo đã chi phối chính trường Israel.
145
146
Các kibbut giữ vị thế trụ cột trong việc thành lập nhà nước mới.
147
Cơ quan Nhập cư Israel và tổ chức phi chính phủ Mossad LeAliyah Bet giúp đỡ nhập cư đến Israel vào cuối thập niên 1940 và đầu thập niên 1950).
148
Một dòng chảy các nạn nhân còn sống sau họa diệt chủng và người Do Thái từ các lãnh thổ Ả Rập và Hồi giáo di cư đến Israel trong ba năm đầu tiên sau lập quốc, khiến số lượng người Do Thái tại Israel tăng từ 700.000 lên 1.400.000.
149
Do đó, dân số Israel tăng từ 800.000 lên đến hai triệu từ năm 1948 đến năm 1958.
149
Từ năm 1948 đến năm 1970, khoảng 1.150.000 người tị nạn Do Thái tái định cư đến Israel.
150
Các di dân đến Israel vì nguyên nhân khác nhau, một số tin tưởng vào ý thức hệ Phục quốc Do Thái, trong khi một số khác di chuyển để thoát khỏi ngược đãi. Một số người khác thì di cư vì hứa hẹn về một đời sống tốt hơn tại Israel và một lượng nhỏ bị trục xuất khỏi quê hương của họ, như trường hợp người Do Thái gốc Anh và Pháp tại Ai Cập sau
Khủng hoảng Suez
151
Một số di dân mới đến với thân phận người tị nạn và không có tài sản, họ được cho ở trong các trại tạm thời gọi là ma'abarot; đến năm 1952, có trên 200.000 di dân sống trong các khu lán trại này.
152
Trong thời kỳ đó, thực phẩm, quần áo và đồ đạc bị chia khẩu phần theo chế độ được gọi là Thời kỳ Khắc khổ. Nhu cầu giải quyết khủng hoảng khiến Ben-Gurion ký một thỏa thuận bồi thường với Tây Đức, song nó khiến người Do Thái kháng nghị quy mô lớn do giận dữ với ý tưởng rằng Israel có thể chấp thuận bồi thường tiền tệ cho nạn diệt chủng Holocaust.
153
Những người tị nạn thường được đối đãi khác biệt dựa theo nguồn gốc của họ, người Do Thái xuất thân từ châu Âu được đối đãi thuận lợi hơn so với những người Do Thái đến từ các quốc gia Trung Đông và Bắc Phi, chẳng hạn như nhóm sau thường ở trong các ma'abarot lâu hơn.
154
Căng thẳng phát triển giữa hai nhóm do các kỳ thị như vậy tiếp tục cho đến nay.
155
Binh sĩ Israel trong
Chiến tranh Sinai
Năm 1950, Ai Cập đóng cửa Kênh đào Suez đối với các tàu của Israel, căng thẳng dâng cao khi xung đột vũ trang diễn ra dọc biên giới Israel. Trong thập niên 1950, các fedayeen (du kích dân tộc) Palestine thường xuyên tổ chức các cuộc tấn công khủng bố Israel, gần như luôn nhằm vào thường dân,
156
và được tài trợ bởi Ai Cập,
157
dẫn đến một số động thái đáp trả của Israel. Năm 1956, Anh và Pháp đặt mục tiêu giành lại quyền kiểm soát Kênh đào Suez từ Ai Cập. Do tàu của Israel tiếp tục bị phong tỏa tại Kênh đào Suez và
Eo biển Tiran
, cùng với gia tăng số cuộc tấn công của fedayeen chống lại cư dân miền nam của Israel, cùng các tuyên bố nghiêm trọng và đe dọa gần đó từ thế giới Ả Rập, Israel quyết định tấn công Ai Cập.
158
159
160
161
Israel tham gia một liên minh bí mật với Anh và Pháp, tràn ngập
Bán đảo Sinai
song chịu áp lực phải triệt thoái từ Liên Hợp Quốc để đổi lấy đảm bảo quyền lợi hàng hải của Israel tại
Biển Đỏ
qua Eo biển Tiran và
Kênh đào Suez
162
163
Cuộc chiến này khiến các vụ xâm nhập biên giới Israel giảm đáng kể.
164
Đầu thập niên 1960, Israel bắt giữ tội phạm chiến tranh Đức Quốc Xã
Adolf Eichmann
tại
Argentina
và đưa ông về Israel để xét xử.
165
Phiên tòa có tác động lớn đến nhận thức công chúng về
Holocaust
166
Eichmann vẫn là người duy nhất bị hành quyết tại Israel dựa theo kết tội của tòa án dân sự Israel.
167
Chiến tranh Sáu ngày và Chiến tranh Yom Kippur
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Chiến tranh Sáu ngày

Chiến tranh Yom Kippur
Binh sĩ Israel tại
Bức tường Than Khóc
Jerusalem
sau khi họ chiếm được nơi này.
Các lãnh thổ do Israel kiểm soát:
trước
Chiến tranh Sáu ngày
sau chiến tranh
Bán đảo Sinai
được trao trả cho Ai Cập vào năm 1982.
Từ năm 1964, các quốc gia Ả Rập lo ngại về các kế hoạch của Israel nhằm chuyển nước từ
sông Jordan
đến đồng bằng duyên hải,
168
họ nỗ lực chuyển nước đầu nguồn nhằm tước đoạt tài nguyên nước của Israel, kích động căng thẳng giữa Israel với Syria-Liban.
Các thành phần dân tộc chủ nghĩa Ả Rập dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Ai Cập
Gamal Abdel Nasser
từ chối công nhận Israel, và kêu gọi tiêu diệt nước này.
36
169
170
Đến năm 1966, quan hệ Israel-Ả Rập xấu đến mức diễn ra các trận đánh trên thực địa giữa lực lượng của Israel và Ả Rập.
171
Đến tháng 5 năm 1967, Ai Cập tập trung quân đội của mình gần biên giới với Israel, trục xuất lực lượng duy trì hòa bình của Liên Hợp Quốc đồn trú tại Bán đảo Sinai từ năm 1957, và phong tỏa tàu Israel tiếp cận Biển Đỏ. Các quốc gia Ả Rập khác cũng huy động lực lượng của mình.
172
Ngày 5 tháng 6 năm 1967, Israel phát động tấn công phủ đầu chống Ai Cập. Jordan, Syria và Iraq phản ứng và tấn công Israel. Trong
Chiến tranh Sáu ngày
, Israel đánh bại Jordan và chiếm Bờ Tây, đánh bại Ai Cập và chiếm Dải Gaza cùng
Bán đảo Sinai
, đánh bại Syria và chiếm
Cao nguyên Golan
173
Ranh giới của Jerusalem được mở rộng, sáp nhập
Đông Jerusalem
, và Giới tuyến Xanh năm 1949 trở thành biên giới hành chính giữa Israel và các lãnh thổ do họ chiếm đóng.
Sau chiến tranh năm 1967 và nghị quyết "ba không" của Liên đoàn Ả Rập, trong Chiến tranh Tiêu hao 1967–1970 Israel phải đối diện với các cuộc tấn công từ người Ai Cập tại Sinai, và từ các tổ chức Palestine nhắm mục tiêu là người Israel tại các lãnh thổ bị chiếm đóng, tại bản thân Israel, và toàn thế giới. Tổ chức người Palestine và Ả Rập quan trọng nhất trong số đó là
Tổ chức Giải phóng Palestine
(PLO), được thành lập vào năm 1964 và ban đầu cho rằng "đấu tranh vũ trang là cách thức duy nhất để giải phóng quê hương".
174
175
Đến cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, các tổ chức Palestine phát động một làn sóng tấn công
176
177
chống lại các mục tiêu Israel và Do Thái trên toàn thế giới,
178
trong đó có
cuộc tàn sát các vận động viên Israel
tham gia
Thế vận hội Mùa hè 1972
tại
München
. Chính phủ Israel sau đó tiến hành
chiến dịch ám sát
những người tổ chức cuộc tàn sát, oanh tạc và tập kích đại bản doanh của Tổ chức Giải phóng Palestine tại Liban.
Ngày 6 tháng 10 năm 1973, khi người Do Thái cử hành
Yom Kippur
, quân đội Ai Cập và Syria phát động tấn công bất ngờ chống lực lượng Israel tại bán đảo Sinai và cao nguyên Golan, khai màn
Chiến tranh Yom Kippur
. Chiến tranh kết thúc vào ngày 26 tháng 10 với kết quả là Israel đẩy lui thành công quân Ai Cập và Syria song chịu tổn thất 2.500 binh sĩ.
179
Một cuộc điều tra nội bộ miễn trách nhiệm cho chính phủ về các thất bại trước và trong chiến tranh, song nỗi tức giận của công chúng buộc Thủ tướng
Golda Meir
phải từ chức.
180
Tiếp tục xung đột và tiến trình hòa bình
sửa
sửa mã nguồn
Tháng 7 năm 1976, một máy bay bị các du kích Palestine bắt cóc khi đang bay đến Tel Aviv, buộc phải hạ cánh tại
Entebbe
, Uganda. Biệt kích Israel tiến hành
một chiến dịch
giải cứu thành công các con tin.
Bầu cử Knesset (quốc hội) năm 1977 là một bước ngoặt lớn trong lịch sử chính trị Israel khi Đảng
Likud
của
Menachem Begin
giành quyền kiểm soát từ Đảng Lao động.
181
Trong cùng năm, Tổng thống Ai Cập
Anwar El Sadat
thực hiện một chuyến đi đến Israel và phát biểu trước Quốc hội, được cho là sự công nhận Israel đầu tiên của một nguyên thủ Ả Rập.
182
Trong hai năm sau đó, Sadat và Begin ký kết Hiệp nghị Trại David (1978) và Hiệp định Hòa bình Israel–Ai Cập (1979).
183
Đổi lại, Israel triệt thoái khỏi Bán đảo Sinai mà họ chiếm giữ từ năm 1967, và đồng ý tham gia đàm phán về quyền tự trị cho người Palestine tại Bờ Tây và Dải Gaza.
184
Ngày 11 tháng 3 năm 1978, một cuộc tấn công du kích của Tổ chức Giải phóng Palestine từ Liban khiến hàng chục thường dân Israel thiệt mạng. Israel đáp lại bằng một cuộc xâm chiếm miền nam Liban để tiêu diệt các căn cứ của PLO tại phía nam sông Litani. Hầu hết chiến binh PLO triệt thoái, song Israel chiếm giữ miền nam Liban cho đến khi một lực lượng Liên Hợp Quốc và quân đội Liban có thể tiếp quản. PLO nhanh chóng khôi phục chính sách tấn công chống Israel.
Luật Jerusalem năm 1980 của Israel tuyên bố Jerusalem là "thủ đô vĩnh viễn và không thể chia cắt" của Israel.
Trong khi đó, chính phủ của Begin cung cấp ưu đãi cho người Israel đến định cư tại Bờ Tây bị chiếm đóng, gia tăng bất hòa với người Palestine tại khu vực đó.
185
Luật Cơ bản: Jerusalem, Thủ đô của Israel được thông qua vào năm 1980, được một số người cho là tái xác nhận hành động sáp nhập Jerusalem của Israel vào năm 1967 bằng một sắc lệnh chính phủ, và khơi lại tranh luận quốc tế về tình trạng của thành phố. Không có pháp luật Israel nào định nghĩa lãnh thổ của Israel và không có đạo luật nào bao gồm cụ thể Đông Jerusalem trong đó.
186
Lập trường của đa số thành viên Liên Hợp Quốc được phản ánh trong nhiều nghị quyết tuyên bố rằng các hành động do Israel tiến hành nhằm định cư công dân của họ tại Bờ Tây, và áp đặt pháp luật và chính quyền của họ tại Đông Jerusalem, là bất hợp pháp và vô hiệu.
187
Năm 1981, Israel sáp nhập Cao nguyên Golan, song động thái này không được quốc tế công nhận.
188
Ngày 7 tháng 6 năm 1981, không quân Israel
phá hủy
lò phản ứng hạt nhân duy nhất của Iraq, nhằm cản trở chương trình vũ khí hạt nhân của Iraq. Sau một loạt cuộc tấn công của Tổ chức Giải phóng Palestine vào năm 1982, Israel
xâm chiếm
Liban vào cùng năm để phá hủy các căn cứ mà PLO dùng để phát động tấn công và phóng tên lửa vào miền bắc Israel.
189
Trong sáu ngày đầu giao chiến, Israel phá hủy lực lượng quân sự của PLO tại Liban và đánh bại quyết định Syria. Ủy ban Kahan của chính phủ Israel sau đó quy trách nhiệm gián tiếp cho Begin, Sharon và một số tướng lĩnh Israel về cuộc thảm sát người Palestine và Liban tại Sabra và Shatila. Năm 1985, Israel đáp lại một cuộc tấn công khủng bố của người Palestine tại
Síp
bằng cách
oanh tạc
trụ sở của PLO tại
Tunis
. Israel triệt thoái khỏi hầu hết Liban vào năm 1986, song duy trì một vùng đệm biên giới tại miền nam Liban cho đến năm 2000, tại đó lực lượng Israel tham gia xung đột với tổ chức dân quân Liban
Hezbollah
Đa dạng sắc tộc của Israel được mở rộng trong thập niên 1980 và 1990 do nhập cư. Một số làn sóng người Do Thái Ethiopia di cư đến Israel trong thập niên 1980 và 1990. Trong khi đó, từ năm 1990 đến năm 1994, dân số Israel tăng 12% nhờ người Nga nhập cư.
190
Đại khởi nghĩa (Intifada) lần thứ nhất là chỉ một cuộc khởi nghĩa của người Palestine chống lại quyền cai trị của Israel,
191
bùng phát vào năm 1987, với các làn sóng tuần hành và bạo lực không có phối hợp tại Bờ Tây và Dải Gaza. Trong sáu năm sau đó, Đại khởi nghĩa có tổ chức hơn và gồm các biện pháp kinh tế và văn hóa nhằm mục tiêu phá vỡ sự chiếm đóng của Israel. Trên một nghìn người bị giết chết trong bạo lực.
192
Trong
Chiến tranh Vùng Vịnh
năm 1991, PLO ủng hộ
Saddam Hussein
và Iraq phóng tên lửa tấn công Israel. Tuy nhiên, Israel lưu ý đến lời kêu gọi của Hoa Kỳ về giữ kiềm chế trả đũa và không tham gia cuộc chiến này.
193
194
Yitzhak Rabin
(trái) và
Yasser Arafat
(phải) tại lễ ký kết
Hiệp định Oslo
với Tổng thống Hoa Kỳ
Bill Clinton
(giữa)
Năm 1992,
Yitzhak Rabin
trở thành thủ tướng khi đảng của ông thắng cử với lời kêu gọi thỏa hiệp với láng giềng của Israel.
195
196
Năm sau,
Shimon Peres
đại diện cho Israel, và
Mahmoud Abbas
đại diện cho Tổ chức Giải phóng Palestine, ký kết Hiệp nghị Oslo, theo đó trao cho
Chính quyền Dân tộc Palestine
quyền cai quản một bộ phận của Bờ Tây và Dải Gaza.
197
PLO cũng công nhận quyền tồn tại của Israel và cam kết kết thúc chính sách khủng bố.
198
Năm 1994, Hiệp định hòa bình Israel–Jordan được ký kết, theo đó Jordan trở thành quốc gia Ả Rập thứ nhì bình thường hóa quan hệ với Israel.
199
Tháng 11 năm 1995, Yitzhak Rabin bị ám sát bởi một người Do Thái cực hữu phản đối Hiệp nghị Oslo.
200
Đến cuối thập niên 1990, Israel dưới quyền lãnh đạo của
Benjamin Netanyahu
triệt thoái khỏi
Hebron
201
và ký kết Bị vong lục Wye River, trao quyền cai quản lớn hơn cho Chính quyền Dân tộc Palestine.
202
Ehud Barak
trở thành thủ tướng vào năm 1999, ông cho rút quân khỏi miền nam Liban và tiến hành đàm phán với Chủ tịch Chính quyền Palestine
Yasser Arafat
và Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton tại Hội nghị thượng đỉnh Trại David năm 2000. Trong hội nghị, Barak đề xuất kế hoạch thành lập một nhà nước Palestine, bao gồm toàn bộ Dải Gaza và trên 90% Bờ Tây, còn Jerusalem là thủ đô chung của Israel và Palestine.
203
Sau khi các cuộc đàm phán tan vỡ và chuyến thăm gây tranh luận của thủ lĩnh Đảng Likud là
Ariel Sharon
đến
Núi Đền
, Đại khởi nghĩa lần thứ hai khởi đầu. Một số nhà bình luận cho rằng cuộc khởi nghĩa do Yasser Arafat lên kế hoạch từ trước do đàm phán hòa bình tan vỡ.
204
205
206
207
Sharon trở thành thủ tướng trong cuộc bầu cử năm 2001, ông tiến hành kế hoạch nhằm đơn phương triệt thoái khỏi Dải Gaza và cũng đi đầu trong xây dựng hàng rào Bờ Tây của Israel,
208
kết thúc Đại khởi nghĩa.
209
Tháng 7 năm 2006,
Hezbollah
tiến hành pháo kích các cộng đồng biên giới phía bắc của Israel và vượt biên bắt cóc hai binh sĩ Israel, dẫn đến
Chiến tranh Liban thứ hai
kéo dài trong hơn một tháng.
210
211
Ngày 6 tháng 9 năm 2007, Không quân Israel phá hủy một lò phản ứng hạt nhân tại Syria. Cuối năm 2008, Israel tham gia một cuộc xung đột khác khi thỏa thuận đình chiến giữa
Hamas
và Israel tan vỡ.
Chiến tranh Gaza
kéo dài trong ba tuần và kết thúc sau khi Israel tuyên bố đơn phương đình chiến.
212
213
Hamas tuyên bố lệnh đình chiến riêng của họ. Mặc dù các vụ phóng rocket của người Palestine và các cuộc tấn công trả đũa của Israel không hoàn toàn ngưng lại, song lệnh đình chiến mong manh vẫn được duy trì.
214
Với lý do là phản ứng trước các cuộc tấn công rocket của người Palestine nhằm vào các thành phố miền nam Israel,
215
Israel bắt đầu tiến hành một
chiến dịch
tại Gaza vào ngày 14 tháng 11 năm 2012, kéo dài trong tám ngày.
216
Tháng 7 năm 2014, Israel bắt đầu một
chiến dịch
khác tại Gaza sau khi Hamas leo thang các cuộc tấn công bằng rocket.
217
Địa lý
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Địa lý Israel
Địa lý Israel
Biển Levant
Cao nguyên Golan
Biển
Galilee
Galilea
Đồng bằng
duyên hải
Dãy núi Judae
Thung lũng
Jordan
Biển Chết
Negev
Vịnh Aqaba
Israel nằm ven cực đông của
Địa Trung Hải
, giáp với Liban về phía bắc, Syria về phía đông bắc, Jordan và Bờ Tây về phía Đông, và Ai Cập cùng Dải Gaza về phía tây nam. Lãnh thổ Israel nằm giữa vĩ tuyến 29° và 34° Bắc, và kinh tuyến 34° và 36° Đông.
Lãnh thổ chủ quyền của Israel (theo phân giới trong Hiệp định Đình chiến 1949 và loại trừ toàn bộ lãnh thổ bị Israel chiếm lĩnh trong Chiến tranh Sáu ngày năm 1967) có diện tích khoảng
20.770 kilômét vuông (8.019
dặm
vuông
Anh)
, trong đó hai phần trăm là mặt nước.
22
Tuy nhiên, vùng đặc quyền kinh tế của họ tại Địa Trung Hải lớn gấp đôi diện tích đất liền.
218
Tổng diện tích lãnh thổ tuân theo pháp luật Israel, kể cả Đông Jerusalem và Cao nguyên Golan, là
22.072 kilômét vuông (8.522
dặm
vuông
Anh)
219
và tổng diện tích nằm dưới quyền kiểm soát của Israel, bao gồm Bờ Tây do Israel kiểm soát quân sự và người Palestine quản lý cục bộ, là
27.799 kilômét vuông (10.733
dặm
vuông
Anh)
220
Mặc dù có quy mô nhỏ song Israel sở hữu các đặc điểm địa lý đa dạng, từ hoang mạc
Negev
tại miền nam đến
thung lũng Jezreel
phì nhiêu nội lục, các dãy núi
Galilee
Carmel
và về phía Golan tại miền bắc. Đồng bằng Duyên hải Israel bên bờ Địa Trung Hải là nơi cư trú của 57% cư dân toàn quốc.
221
222
223
Phía đông của các cao địa trung tâm là Thung lũng đứt gãy Jordan, một bộ phận nhỏ của
Thung lũng tách giãn Lớn
dài
6.500 kilômét (4.039
mi)
Sông Jordan
chảy dọc Thung lũng đứt gãy Jordan, từ
núi Hermon
qua
thung lũng Hulah

biển Galilee
đến
Biển Chết
- điểm thấp nhất trên bề mặt Trái Đất.
224
Xa hơn về phía nam là
Arabah
, kết thúc là
vịnh Eilat
thuộc
Biển Đỏ
. Điểm độc đáo của Israel và
bán đảo Sinai
là các
makhtesh
, hay các đài vòng bị xói mòn.
225
Makhtesh lớn nhất trên thế giới là miệng Ramon tại Negev,
226
có kích thước
40 nhân 8 kilômét (25 nhân 5
mi)
227
Một báo cáo về tình trạng môi trường của các quốc gia lưu vực Địa Trung Hải cho thấy Israel có số lượng loài thực vật nhiều nhất trên mỗi mét vuông so với các quốc gia khác trong lưu vực.
228
Kiến tạo và địa chấn
sửa
sửa mã nguồn
Hình ảnh từ vệ tinh của Israel và các lãnh thổ lân cận vào ban ngày (trái) và ban đêm (phải)
Thung lũng đứt gãy Jordan là kết quả của vận động địa chấn bên dưới hệ thống đứt gãy Đoạn tầng Biển Chết (DSF). DSF hình thành ranh giới biến đổi giữa mảng châu Phi ở phía tây và mảng Ả Rập ở phía đông. Cao nguyên Golan và toàn bộ Jordan thuộc mảng Ả Rập, trong khi Galilee, Bờ Tây, Đồng bằng Duyên hải và Negev cùng bán đảo Sinai nằm trên mảng châu Phi. Sự sắp xếp kiến tạo này kéo theo hoạt động địa chấn tương đối cao độ trong khu vực. Toàn bộ đoạn thung lũng Jordan được cho là nhiều lần bị đứt, thí dụ trong hai trận động động đất lớn cuối cùng dọc theo cấu trúc này vào năm 749 và 1033. Sự thiếu hụt trượt bắt nguồn từ sự kiện năm 1033 là đủ để gây một trận động đất
Mw
~7.4.
229
Các trận động đất thê thảm nhất được biết đến từng diễn ra vào các năm 31 TCN, 363, 749, và 1033, trung bình cách nhau khoảng 400 năm.
230
Các trận động đất hủy diệt gây ra tổn thất nghiêm trọng về nhân mạng xảy ra mỗi 80 năm.
231
Trong khi các quy định xây dựng nghiêm ngặt đang được thi hành và các công trình xây dựng gần đây an toàn với động đất,
tính đến năm 2007
cập nhật
phần lớn công trình tại Israel được xây trước khi thi hành các quy định này và nhiều tòa nhà công cộng cũng như 50.000 tòa nhà ở không đáp ứng các tiêu chuẩn mới và bị "dự kiến sụp đổ" nếu gặp phải một trận động đất mạnh.
231
Khí hậu
sửa
sửa mã nguồn
Bản đồ Israel theo
phân loại khí hậu Köppen
Nhiệt độ tại Israel biến động nhiều, đặc biệt là trong mùa đông. Các khu vực duyên hải, như
Tel Aviv

Haifa
, có khí hậu Địa Trung Hải đặc trưng với mùa đông mát và có mưa nhiều còn mùa hè kéo dài và nóng. Khu vực
Beersheba
và Bắc Negev có khí hậu bán hoang mạc với mùa hè nóng và mùa đông lạnh, số ngày mưa ít hơn so với khí hậu Địa Trung Hải. Các khu vực Nam Negev và Arava có khí hậu hoang mạc với mùa hè rất nóng và khô, mùa đông ôn hòa với vài ngày có mưa. Nhiệt độ cao nhất tại lục địa châu Á (
54,0
°C hay 129,2
°F
) ghi nhận được vào năm 1942 tại kibbutz
Tirat Zvi
thuộc miền bắc thung lũng sông Jordan.
232
233
Trên các khu vực núi cao cực độ khác có thể nhiều gió và lạnh, các khu vực có độ cao từ 750 mét trở lên (cùng độ cao với Jerusalem) thường có ít nhất một trận tuyết rơi mỗi năm.
234
Mưa hiếm khi rơi tại Israel từ tháng 5 đến tháng 9.
235
236
Do tài nguyên nước khan hiếm, Israel phát triển các kỹ thuật tiết kiệm nước khác nhau, chẳng hạn như tưới nhỏ giọt.
237
Người Israel cũng tận dụng ánh sáng mặt trời sẵn có cho ngành quang năng, biến Israel trở thành nước dẫn đầu về năng lượng mặt trời sử dụng theo bình quân (hầu như toàn bộ hộ gia đình sử dụng tấm năng lượng mặt trời để đun nước).
Israel có bốn khu vực địa lý thực vật khác nhau, do nước này nằm giữa ôn đới và nhiệt đới, giáp với Địa Trung Hải tại phía tây và hoang mạc về phía đông. Vì nguyên nhân này, động thực vật tại Israel cực kỳ đa dạng. Phát hiện được 2.867 loài thực vật tại Israel. Trong đó, ít nhất 253 loài được du nhập và phi bản địa.
238
Israel có 380 khu bảo tồn thiên nhiên.
239
Tiberias

biển Galilee
Cánh đồng
Anemone coronaria
, quốc hoa của Israel
Miệng Ramon, một loại miệng núi lửa độc đáo chỉ có tại Israel và bán đảo Sinai
Chính trị
sửa
sửa mã nguồn
Phòng họp của
Knesset
, nghị viện Israel
Israel áp dụng hệ thống nghị viện theo mô hình cộng hòa dân chủ cùng quyền phổ thông đầu phiếu.
22
Một thành viên của nghị viện được đa số nghị viện ủng hộ sẽ trở thành thủ tướng, thường là thủ lĩnh của đảng lớn nhất.
Thủ tướng
là người đứng đầu chính phủ và nội các.
240
241
Nghị viện của Israel có 120 thành viên, gọi là
Knesset
. Tư cách thành viên của Knesset dựa trên đại diện tỷ lệ của các chính đảng,
242
với ngưỡng phiếu bầu là 3,25%.
Bầu cử nghị viện được quy định bốn năm tổ chức một lần, song các liên minh không ổn định hoặc một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm của Knesset có thể giải tán chính phủ sớm hơn. Luật Cơ bản của Israel có chức năng là hiến pháp bất thành văn. Năm 2003, Knesset bắt đầu soạn thảo hiến pháp chính thức dựa trên các luật này.
22
243
Tổng thống Israel
là nguyên thủ quốc gia, có nhiệm vụ hạn chế và phần lớn mang tính lễ nghi.
240
Israel không có tôn giáo chính thức,
244
245
246
song việc định nghĩa nhà nước là "Do Thái và dân chủ" tạo ra một liên kết mạnh với Do Thái giáo, cũng như là xung đột giữa luật nhà nước và luật tôn giáo. Sự tương tác giữa các chính đảng giúp duy trì cân bằng giữa nhà nước và tôn giáo ở mức độ lớn như đã từng thể hiện thời Anh cai trị ủy trị.
247
Hệ thống tư pháp
sửa
sửa mã nguồn
Bên ngoài
Tòa án tối cao Israel
vào ban đêm
Israel có hệ thống tòa án ba cấp. Cấp thấp nhất là các tòa án thẩm phán, nằm tại hầu hết thành phố khắp Israel. Cấp thứ hai là các tòa án cấp quận, đóng vai trò là các tòa án phúc thẩm và tòa án sơ thẩm; chúng nằm tại năm trong số sáu quận. Cấp cao nhất là tòa án tối cao; nằm tại Jerusalem; nó đóng vai trò là tòa án phúc thẩm tối cao và tòa án tư pháp tối cao. Trong chức năng thứ hai, Tòa án tối cao là tòa án sơ thẩm, cho phép các cá nhân, cả công dân và phi công dân, được đệ đơn kiện các quyết định của nhà cầm quyền đất nước.
248
249
Mặc dù Israel ủng hộ mục tiêu của
Tòa án Hình sự Quốc tế
, song họ không phê chuẩn Quy chế Roma do lo ngại về khả năng tòa án duy trì rằng buộc công bằng chính trị.
250
Hệ thống tư pháp của Israel kết hợp ba truyền thống tư pháp:
thông luật Anh
dân luật
, và
luật Do Thái
22
Nó dựa trên nguyên tắc
án lệ
(tiền lệ) và là một hệ thống đối địch, tại đó các bên trình bằng chứng trước tòa. Các vụ kiện tòa án do thẩm phán chuyên nghiệp quyết định thay vì bồi thẩm đoàn.
248
Kết hôn và ly hôn là thẩm quyền của các tòa án tôn giáo: Do Thái giáo, Hồi giáo, Druze, Cơ Đốc giáo. Một ủy ban gồm hai thành viên Knesset, ba thành viên Tòa án Tối cao, hai thành viên hiệp hội luật sư, và hai bộ trưởng (một người là bộ trưởng tư pháp và là chủ tịch ủy ban) bầu ra các thẩm phán. Các thành viên của hội đồng thuộc Knesset được Knesset bầu bí mật, và một người theo truyền thống là thành viên của phe đối lập.
251
252
253
Đơn vị hành chính
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Quận của Israel
Quận
Thủ phủ
Thành phố lớn nhất
Dân số
254
Người Do Thái
Người Ả Rập
Tổng
ghi chú
Jerusalem
Jerusalem
67%
32%
1.083.300
Bắc
Nazareth Illit
Nazareth
43%
54%
1.401.300
Haifa
Haifa
68%
26%
996.300
Trung
Ramla
Rishon LeZion
88%
8%
2.115.800
Tel Aviv
Tel Aviv
93%
2%
1.388.400
Quận Nam
Beersheba
Ashdod
73%
20%
1.244.200
Judea và Samaria
Ariel
Modi'in Illit
98%
0%
399,300
^a
Bao gồm 201.170 người Do Thái và 313.350 người Ả Rập tại
Đông Jerusalem
tính đến năm 2014
cập nhật
255
^b
Chỉ công dân Israel.
Các quận của Israel
Bắc
Haifa
Trung
Tel Aviv
Judea

Samaria
Jerusalem
Nam
Nhà nước Israel được phân chia thành sáu quận hành chính, gọi là mehozot (מחוזות; số ít: mahoz)
Trung
Haifa
Jerusalem
Bắc
Nam
, và
Tel Aviv
, cùng với
Khu vực Judea và Samaria
tại Bờ Tây. Toàn bộ Khu vực Judea và Samaria cùng bộ phận của các quận Jerusalem và Bắc không được quốc tế công nhận là bộ phận của Israel. Các quận được phân chia thành 15 nafot (נפות; số ít: nafa), chúng lại được chia thành 50 khu vực tự nhiên.
256
Vì mục đích thống kê, quốc gia được chia thành ba khu vực đại đô thị: Đại đô thị Tel Aviv, đại đô thị Haifa, và đại đô thị Beersheba.
257
Đô thị lớn nhất của Israel về dân số và diện tích
258

Jerusalem
với 773.800 cư dân trên diện tích
126 kilômét vuông (49
dặm
vuông
Anh)
(năm 2009). Số liệu thống kê của chính phủ Israel về Jerusalem bao gồm dân số và diện tích của Đông Jerusalem, vốn được công nhận phổ biến là bộ phận lãnh thổ của Palestine bị Israel chiếm đóng.
259
Tel Aviv
Haifa
, và
Rishon LeZion
là các thành phố đông dân kế tiếp của Israel.
258
Ngoại giao
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Quan hệ ngoại giao của Israel
Israel duy trì quan hệ ngoại giao với 158 quốc gia và có 107 phái bộ ngoại giao trên toàn cầu;
260
hầu hết các quốc gia Hồi giáo nằm trong nhóm không có quan hệ ngoại giao với Israel.
261
Chỉ có ba thành viên của
Liên đoàn Ả Rập
bình thường hóa quan hệ với Israel: Ai Cập và Jordan lần lượt ký các hiệp định hòa bình vào năm 1979 và 1994, và Mauritania chọn lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Israel vào năm 1999. Mặc dù Israel và Ai Cập có hiệp định hòa bình, song Israel vẫn bị nhìn nhận phổ biến là quốc gia đối địch trong xã hội Ai Cập.
262
Theo pháp luật Israel thì Liban, Syria, Ả Rập Xê Út, Iraq, Iran, Sudan, và Yemen là các quốc gia đối địch,
263
và công dân Israel không được đến đó nếu không được phép từ Bộ Nội vụ.
264
Iran có quan hệ ngoại giao với Israel dưới thời triều đại Pahlavi
265
song thu hồi việc công nhận Israel trong
Cách mạng Hồi giáo
1979.
266
Do Chiến tranh Gaza 2008-2009, Mauritania, Qatar, Bolivia, và Venezuela đình chỉ các quan hệ chính trị và kinh tế với Israel.
267
268
Quan hệ ngoại giao
Quan hệ ngoại giao bị đình chỉ
Từng có quan hệ ngoại giao
Không có quan hệ ngoại giao, nhưng từng có quan hệ mậu dịch
Không có quan hệ ngoại giao
Hoa Kỳ và Liên Xô là hai quốc gia đầu tiên công nhận Nhà nước Israel, họ ra tuyên bố công nhận gần như đồng thời.
269
Hoa Kỳ nhìn nhận Israel là "đối tác đáng tin cậy nhất tại Trung Đông" của họ,
270
dựa trên "các giá trị dân chủ, thân thuộc tôn giáo, và lợi ích an ninh chung".
271
Hoa Kỳ đã cung cấp 68
tỷ USD viện trợ quân sự và 32
tỷ USD tài trợ cho Israel từ năm 1967 theo Đạo luật Viện trợ Nước ngoài,
272
nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào trong cùng thời kỳ cho đến năm 2003.
272
273
274
Anh Quốc được nhận định là có một mối quan hệ "tự nhiên" với Israel bắt nguồn từ khi Anh Quốc cai trị ủy trị Palestine.
275
Quan hệ giữa hai quốc gia cũng được củng cố nhờ các nỗ lực của cựu Thủ tướng
Tony Blair
về một giải pháp hai nhà nước.
Đến năm 2007
cập nhật
Đức đã chi trả 25
tỷ euro tiền bồi thường cho Nhà nước Israel và những công dân Israel sống sót sau nạn diệt chủng người Do Thái.
276
Israel được đưa vào trong Chính sách Láng giềng Châu Âu (ENP) của Liên minh châu Âu, vốn có mục tiêu thắt chặt quan hệ giữa EU và các quốc gia lân cận.
277
Mặc dù Thổ Nhĩ Kỳ và Israel không thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ cho đến năm 1991,
278
song Thổ Nhĩ Kỳ đã hợp tác với Nhà nước Israel kể từ khi công nhận quốc gia này vào năm 1949. Mối quan hệ của Thổ Nhĩ Kỳ với các quốc gia Hồi giáo đa số trong khu vực vào đương thời cản trở quan hệ giữa họ và Israel.
279
Quan hệ giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Israel bị suy sụp sau Chiến tranh Gaza 2008-2009 và việc Israel tập kích đội tàu Gaza năm 2010.
267
280
281
282
283
284
Quan hệ giữa Israel và Hy Lạp được cải thiện từ năm 1995 do quan hệ Israel-Thổ Nhĩ Kỳ suy thoái.
285
Hai quốc gia có một hiệp định hợp tác phòng thủ và vào năm 2010, Không quân Israel tổ chức diễn tập chung với Không quân Hy Lạp tại
căn cứ Uvda
. Chương trình thăm dò chung dầu khí Síp-Israel tập trung tại mỏ khí Leviat là một yếu tố quan trọng đối với Hy Lạp do nước này có liên kết mạnh mẽ với Síp.
286
Hợp tác trong tuyến cáp điện ngầm EuroAsia Interconnector giúp tăng cường quan hệ giữa Síp và Israel.
287
288
289
Azerbaijan là một trong vài quốc gia Hồi giáo phát triển các quan hệ chiến lược và kinh tế song phương với Israel. Azerbaijan cung cấp dầu cho Israel, và Israel giúp hiện đại hóa lực lượng vũ trang của Azerbaijan. Ấn Độ thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Israel vào năm 1992 và từ đó phát triển quan hệ đối tác quân sự, công nghệ và văn hóa mạnh mẽ với Israel.
290
Theo một cuộc thăm dò quan điểm quốc tế được tiến hành vào năm 2009 nhân danh Bộ Ngoại giao Israel, Ấn Độ là quốc gia thân Israel nhất trên thế giới.
291
292
Ấn Độ là khách hàng lớn nhất của thiết bị quân sự Israel và Israel là đối tác quân sự lớn thứ nhì của Ấn Độ sau Nga.
293
Tại châu Phi, Ethiopia là đồng minh chủ yếu và thân cận nhất của Israel do có chính trị, tôn giáo và lợi ích an ninh tương đồng.
294
Việt Nam
và Israel thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 12 tháng 7 năm 1993. Israel mở đại sứ quán tại
Hà Nội
vào tháng 12 năm 1993. Từ khi tạo dựng mối quan hệ ngoại giao, hai nước đã thường xuyên có những chuyến thăm lẫn nhau ở nhiều cấp và đã củng cố sự hợp tác trên các lĩnh vực như thương mại, giáo dục, văn hóa, nông nghiệp, quốc phòng và hợp tác kỹ thuật. Những chuyến thăm của chính phủ Israel thường đi kèm với những đoàn đại biểu bao gồm các doanh nhân, các học giả, nhà báo, nghệ sĩ, nhạc sĩ, nhân viên pháp lý và vân vân.
295
Quân đội
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Lực lượng Phòng vệ Israel
Một nhóm các binh sĩ Israel đa sắc tộc đang nghỉ ngơi và thư giãn
Lực lượng Phòng vệ Israel là lực lượng quân đội duy nhất của lực lượng an ninh Israel, có người đứng đầu là tổng tư lệnh (Ramatkal), dưới quyền nội các. Lực lượng Phòng vệ Israel gồm có lục quân, không quân và hải quân. Lực lượng này được thành lập trong Chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1948, do hợp nhất các tổ chức bán quân sự mà trong đó chủ yếu là tổ chức Haganah tồn tại từ trước khi lập quốc.
296
Lực lượng Phòng vệ Israel cũng dựa trên nguồn lực của Cục Tình báo Quân sự (Aman), cơ quan này hoạt động cùng với cơ quan tình báo quốc gia
Mossad
và cơ quan an ninh nội bộ
Shabak
297
Lực lượng Phòng vệ Israel tham gia một số chiến tranh và xung đột biên giới quy mô lớn trong lịch sử ngắn ngủi của mình, trở thành một trong những lực lượng quân sự được huấn luyện trong chiến đấu nhiều nhất trên thế giới.
298
299
Hầu hết người Israel thực hiện
nghĩa vụ quân sự
vào tuổi 18. Nam giới phục vụ trong hai năm tám tháng, còn nữ giới phục vụ trong hai năm.
300
Sau khi hoàn thành nghĩa vụ, nam giới Israel tham gia lực lượng dự bị và thường xuyên thực hiện đến vài tuần nhiệm vụ dự bị mỗi năm cho đến khi 40 tuổi. Hầu hết nữ giới được miễn nhiệm vụ dự bị. Công dân Israel là người Ả Rập (ngoại trừ tín đồ
Druze
) và những người tham gia nghiên cứu tôn giáo toàn thời gian được miễn nghĩa vụ quân sự, song việc miễn trừ cho các học viên
chủng viện Do Thái
là một đề tài gây tranh luận nhiều năm trong xã hội Israel.
301
302
Một sự thay thế cho những người được miễn trừ vì các nguyên nhân khác nhau là phục vụ quốc gia (Sherut Leumi), tức tham gia một chương trình phục vụ trong các bệnh viện, trường học, và các cơ cấu tổ chức phúc lợi xã hội khác.
303
Do chương trình nghĩa vụ quân sự, Lực lượng Phòng vệ Israel duy trì khoảng 176.500 lính tại ngũ cộng thêm 445.000 lính dự bị (2012).
304
Lá chắn
David's Sling
khai hoả trong một cuộc thử nghiệm
Quân sự Israel dựa chủ yếu vào các hệ thống vũ khí công nghệ cao, do Israel thiết kế và chế tạo, cùng một số vũ khí nhập khẩu. Tên lửa Arrow nằm trong số ít hệ thống
tên lửa chống tên lửa đạn đạo
hoạt động trên thế giới.
305
Dòng tên lửa không đối không Python thường được nhận định là một trong các vũ khí quan trọng nhất trong lịch sử quân sự quốc gia.
306
Tên lửa Spike của Israel nằm trong số
tên lửa chống tăng
được xuất khẩu nhiều nhất trên thế giới.
307
Hệ thống phòng không chống tên lửa
Vòm Sắt
được tán dương trên toàn cầu sau khi chặn đứng hàng trăm pháo phản lực Qassam,
122 mm Grad
và Fajr-5 do các chiến binh Palestine phóng đi từ Dải Gaza.
308
309
Kể từ Chiến tranh Yom Kippur năm 1973, Israel phát triển một mạng lưới vệ tinh do thám.
310
Thành công của chương trình Ofeq khiến Israel trở thành một trong bảy quốc gia có năng lực phóng các vệ tinh như vậy.
311
Israel được nhiều người tin là sở hữu vũ khí hạt nhân
312
cũng như các vũ khí hóa học và sinh học hủy diệt hàng loạt.
313
Israel không ký kết
Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân
314
và duy trì một chính sách mơ hồ có chủ ý về năng lực hạt nhân của mình.
315
Các tàu ngầm Dolphin của Hải quân Israel được cho là được vũ trang bằng các tên lửa Popeye Turbo hạt nhân, cung cấp năng lực tấn công thứ hai về hạt nhân.
316
Kể từ Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991, khi Israel bị các tên lửa Scud của Iraq tấn công, toàn bộ nhà tại Israel được yêu cầu có một phòng an ninh tăng cường gọi là Merkhav Mugan, không thẩm thấu các vật chất hóa học và sinh học.
317
Kể từ khi Israel lập quốc, chi tiêu quân sự chiếm một tỷ lệ lớn GDP của quốc gia này, đạt đỉnh là 30,3% chi tiêu GDP cho quốc phòng vào năm 1975.
318
Năm 2015, Israel
xếp hạng 7 thế giới về chi tiêu quốc phòng
theo tỷ lệ GDP, với 5,4%,
319
và có tổng chi tiêu quân sự lớn thứ 15 thế giới.
320
Kể từ năm 1974, Hoa Kỳ là nước đóng góp đặc biệt đáng kể về viện trợ quân sự cho Israel.
321
Theo một bị vong lục thông hiểu ký kết vào năm 2016, Hoa Kỳ được dự kiến cung cấp cho Israel 3,8 tỉ USD mỗi năm từ năm 2018 đến năm 2028, chiếm khoảng 20% ngân sách quốc phòng của Israel.
322
Israel xếp hạng bảy thế giới về xuất khẩu vũ khí vào năm 2016.
323
Đa số xuất khẩu vũ khí của Israel không được tường thuật ví các lý do an ninh.
324
Israel luôn bị xếp hạng thấp trong
Chỉ số hòa bình toàn cầu
, xếp hạng 144/163 quốc gia vào năm 2017.
325
Kinh tế
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Kinh tế Israel
Sở Giao dịch Chứng khoán Tel Aviv được khánh thành vào năm 2014.
Israel được nhận định là quốc gia tiến bộ nhất tại Tây Nam Á và Trung Đông về phát triển kinh tế và công nghiệp.
326
327
Giáo dục đại học có chất lượng ưu tú và việc hình thành một cộng đồng dân chúng có động lực và giáo dục cao là nguyên nhân chính khích lệ bùng nổ công nghệ cao và phát triển kinh tế nhanh chóng tại Israel.
328
Năm 2010, Israel gia nhập
OECD
329
330
Quốc gia này xếp hạng 24 trong
Báo cáo cạnh tranh toàn cầu
2016-2017 của
Diễn đàn Kinh tế thế giới
331
và đứng thứ 52 về
Chỉ số thuận lợi kinh doanh
của
Ngân hàng Thế giới
vào năm 2017.
332
Israel có số lượng công ty khởi nghiệp nhiều thứ hai thế giới (sau Hoa Kỳ) theo một nghiên cứu năm 2005,
333
và đứng thứ ba về số lượng công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán
NASDAQ
sau Hoa Kỳ và Trung Quốc.
334
Năm 2016, Israel xếp hạng 21 trong số các quốc gia cạnh tranh nhất thế giới, theo Niên giám Cạnh tranh Thế giới của
IMD
335
Israel xếp hạng tư thế giới về tỷ lệ người làm công việc có kỹ năng cao vào năm 2016.
336
Ngân hàng Israel
nắm giữ 97,22 tỉ
dự trữ ngoại hối
22
Mặc dù có tài nguyên tự nhiên hạn chế, song do phát triển mạnh mẽ trong các lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp trong nhiều thập niên nên Israel phần lớn tự cung cấp được thực phẩm, trừ ngũ cốc và thịt bò. Nhập khẩu vào Israel đạt tổng kim ngạch 57,9
tỉ USD vào năm 2016, bao gồm kim loại thô, thiết bị quân sự, hàng hoá đầu tư, kim cương thô, nhiên liệu, lương thực, hàng tiêu dùng.
22
Các mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Israel là máy móc và thiết bị, phần mềm, kim cương chế tác, nông sản, hoá chất, hàng dệt may; năm 2016, Israel xuất khẩu trị giá 51,61
tỉ USD.
22
Israel là quốc gia dẫn đầu về phát triển năng lượng Mặt trời.
337
338
Israel đứng đầu thế giới về bảo tồn nước và năng lượng địa nhiệt,
339
và bước phát triển của Israel trong các công nghệ ưu việt về phầm mềm, viễn thông và khoa học sự sống gợi lên so sánh với Thung lũng Silicon.
340
341
Theo OECD, Israel cũng xếp hạng nhất thế giới về chi tiêu nghiên cứu và phát triển (R&D) theo tỷ lệ trong GDP.
342
Israel có thành tích ấn tượng về sáng tạo các công nghệ thúc đẩy lợi nhuận, khiến quốc gia này là một lựa chọn hàng đầu của nhiều nhà lãnh đạo doanh nghiệp và dã khổng lồ công nghiệp công ngệ cao.
Intel
343

Microsoft
344
xây dựng các trung tâm nghiên cứu và phát triển hải ngoại đầu tiên của họ tại Israel, và các tập đoàn đa quốc gia công nghệ cao khác, như
IBM
Google
Apple
HP
Cisco Systems
đã mở các cơ sở R&D tại Israel.
Tháng 7 năm 2007, công ty Berkshire Hathaway của nhà đầu tư người Mỹ
Warren Buffett
mua lại một công ty Israel là Iscar, vụ thu mua đầu tiên của công ty ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ, với giá 4 tỷ USD.
345
Từ thập niên 1970, Israel nhận được viện trợ quân sự từ Hoa Kỳ, cũng như giúp đỡ kinh tế dưới dạng bảo lãnh vốn vay và hiện dạng này chiếm khoảng một nửa nợ nước ngoài của Israel. Israel có nợ nước ngoài vào hàng thấp nhất trong các quốc gia phát triển, và là một nước cho vay ròng dưới dạng nợ nước ngoài ròng, ở mức thặng dư 118 tỷ USD
vào tháng 12 năm 2015
cập nhật
346
Tuần làm việc tại Israel kéo dài từ Chủ Nhật đến Thứ Năm (đối với tuần làm việc năm ngày), hoặc Thứ Sáu (đối với tuần làm việc sáu ngày). Tuân theo
Shabbat
, tại những nơi làm việc vào ngày Thứ Sáu và đa số cư dân là người Do Thái, Thứ Sáu là một "ngày ngắn", thường kéo dài đến 14:00 trong mùa đông, hoặc 16:00 trong mùa hè. Có một số đề xuất để điều chỉnh tuần làm việc phù hợp với đa phần thế giới.
347
Khoa học và kỹ thuật
sửa
sửa mã nguồn
Dan Shechtman
(phải) là một giáo sư khoa học vật liệu, ông là một trong sáu người Israel đoạt giải
Nobel Hóa học
trong một thập niên.
348
349
Israel là quốc gia dẫn đầu về nghiên cứu khoa học, đặc biệt là trong khoa học tự nhiên, kỹ thuật, và khoa học y tế, chúng cũng là một trong các lĩnh vực phát triển nhất tại Israel. Israel xếp hạng năm trong số các quốc gia sáng tạo nhất theo Chỉ số sáng tạo Bloomberg 2015.
350
351
Tỷ lệ người Israel tham gia nghiên cứu khoa học, và số tiền chi cho nghiên cứu và phát triển so với GDP, đều nằm vào hàng cao nhất trên thế giới.
352
Israel có số lượng cao nhất về tỷ lệ các nhà khoa học, nhà kỹ thuật, và kỹ sư trên thế giới, với 140/10.000 người lao động. Trong khi đó, con số này là 85/10.000 tại Hoa Kỳ và 83/10.000 tại
Nhật Bản
353
354
355
Các trường đại học tại Israel được xếp hạng trong số 100 đại học hàng đầu thế giới về toán học (
Đại học Hebrew
TAU

Technion
), vật lý (TAU, Đại học Hebrew và Học viện Khoa học Weizmann), hóa học (Technion và Học viện Khoa học Weizmann), khoa học máy tính (Học viện Khoa học Weizmann, Technion, Đại học Hebrew, TAU và BIU) và kinh tế (Đại học Hebrew và TAU).
356
Israel có nhiều nhà khoa học đạt giải Nobel, và thường xuyên được xếp hạng là một trong các quốc gia có tỷ lệ bình quân cao nhất về các bài luận khoa học trên thế giới.
357
358
359
Israel dẫn đầu thế giới về các bài luận nghiên cứu tế bào gốc từ năm 2000.
360
Cơ quan Không gian Israel điều phối toàn bộ các chương trình nghiên cứu không gian của Israel với các mục tiêu khoa học và thương mại. Năm 2012, Israel được xếp hạng chín trên thế giới theo Chỉ số cạnh tranh không gian của Futron.
361
Israel là một trong bảy quốc gia có năng lực sản xuất đồng thời phóng vệ tinh của mình.
Shavit
là một tên lửa đẩy không gian do Israel sản xuất để phóng các vệ tinh nhỏ vào
quỹ đạo Trái Đất tầm thấp
362
Nó được phóng lần đầu vào năm 1988, biến Israel thành quốc gia thứ tám có năng lực phóng vệ tinh. Các tên lửa Shavit được Cơ quan Không gian Israel phóng từ sân bay vũ trụ tại Căn cứ Không quân Palmachim. Từ năm 1988,
Israel Aerospace Industries
đã thiết kế và chế tạo bản địa ít nhất 13 vệ tinh thương mại, nghiên cứu và do thám.
363
Một số vệ tinh của Israel được xếp vào hàng các hệ thống vệ tinh tiến bộ nhất thế giới.
364
Năm 2003,
Ilan Ramon
trở thành nhà du hành vũ trụ đầu tiên của Israel, song thiệt mạng khi
Tàu con thoi Columbia
của
NASA
bị vỡ.
365
Israel nằm trong số các quốc gia dẫn dầu thế giới về kỹ thuật nước. Năm 2011, ngành kỹ thuật nước đạt giá trị khoảng 2 tỷ USD mỗi năm với lượng xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ mỗi năm là hàng chục triệu USD. Do liên tục thiếu hụt tài nguyên nước, Israel có sáng kiến về các kỹ thuật bảo tồn nước, và một kỹ thuật hiện đại hóa nông nghiệp trọng yếu là
tưới nhỏ giọt
được phát minh tại Israel. Israel cũng ở vị trí hàng đầu về kỹ thuật khử muối và tuần hoàn nước. Nhà máy thẩm thấu ngược nước biển Ashkelon có quy mô hàng đầu thế giới. Israel tổ chức Triển lãm và Hội nghị Kỹ thuật Nước (WaTec) thường niên, thu hút hàng nghìn người từ khắp thế giới.
366
367
Đến năm 2014, chương trình khử muối của Israel cung cấp khoảng 35% nước uống của Israel và được dự kiến cung cấp 70% vào năm 2050.
368
Tính đến tháng 5 năm 2015, trên 50% nước cho các gia đình, nông nghiệp và công nghiệp Israel được sản xuất nhân tạo.
369
Do các sáng kiến về kỹ thuật thẩm thấu ngược, Israel bắt đầu trở thành một nước xuất khẩu ròng về nước trong những năm tới.
370
Đĩa parabol Mặt trời lớn nhất thế giới tại Trung tâm Năng lượng Mặt trời Quốc gia Ben-Gurion.
371
Israel đã đi theo hướng năng lượng Mặt trời; các kỹ sư của họ đi tiên phong về lĩnh vực này
338
và các công ty năng lượng Mặt trời của Israel làm việc trong các dự án khắp thế giới.
337
372
Trên 90% gia đình Israel sử dụng năng lượng Mặt trời để làm nóng nước, đây là tỷ lệ cao nhất thế giới (2011).
373
374
Theo số liệu của chính phủ, quốc gia tiết kiệm được 8% tiêu thụ điện năng mỗi năm nhờ sử dụng năng lượng Mặt trời để đun nóng.
375
Bức xạ Mặt trời cao tạo điều kiện lý tưởng cho ngành công nghiệp nghiên cứu và phát triển năng lượng Mặt trời nổi danh thế giới tại Hoang mạc Negev.
337
338
372
Israel có cơ sở hạ tầng ô tô điện hiện đại, có hệ thống trạm nạp điện trên toàn quốc. Người ta cho rằng loại xe này sẽ khiến Israel giảm sự phụ thuộc vào dầu và hạ thấp chi phí nhiên liệu của những người lái xe Israel sử dụng ô tô chỉ chạy bằng pin điện.
376
377
378
Mô hình Israel được một số quốc gia học tập và thực hiện.
379
Tuy nhiên, công ty ô tô điện tiên phong của Israel là Better Place đóng cửa vào năm 2013.
380
Giao thông
sửa
sửa mã nguồn
Ga hành khách tại
Sân bay Quốc tế Ben Gurion
Israel có 19.224
km đường được lát mặt vào năm 2016,
381
và có 3
triệu xe ô tô vào năm 2015.
382
Số lượng xe ô tô trên 1.000 dân là 365, tương đối thấp so với các quốc gia phát triển.
382
Israel có 5.715 xe buýt trên các tuyến cố định,
383
do một số hãng vận chuyển điều hành, lớn nhất trong số đó là Egged, phục vụ hầu hết toàn quốc. Các tuyến đường sắt trải dài 1.277
km tính đến năm 2016, và công ty quốc doanh Israel Railways là thể chế điều hành duy nhất.
384
Sau các khoản đầu tư lớn từ đầu đến giữa thập niên 1990, số lượng hành khách đường sắt mỗi năm tăng từ 2,5
triệu vào năm 1990, lên đến 53
triệu vào năm 2015; đường sắt cũng được sử dụng để vận chuyển 7,5 tấn hàng hóa mỗi năm.
384
Israel có hai sân bay quốc tế:
Sân bay quốc tế Ben Gurion
là trung tâm hàng không quốc tế chủ yếu và nằm gần đại đô thị Tel Aviv-Yafo, còn
Sân bay Ovda
phục vụ thành phố cảng cực nam
Eilat
. Ngoài ra, còn có các sân bay nội địa.
385
Sân bay Ben Gurion vận chuyển trên 15
triệu lượt hành khách vào năm 2015.
386
Tại bờ biển Địa Trung Hải, Cảng Haifa là cảng lâu năm nhất và lớn nhất Israel, còn Cảng Ashdod là một trong vài cảng nước sâu trên thế giới được xây dựng trên vùng biển mở.
385
Ngoài ra, Cảng Eilat có quy mô nhỏ hơn nằm ven Biển Đỏ, chủ yếu được sử dụng cho mậu dịch với các quốc gia
Viễn Đông
385
Du lịch
sửa
sửa mã nguồn
Du lịch, đặc biệt là du lịch tôn giáo, là một ngành quan trọng tại Israel, nhờ có khí hậu ôn hòa, các bãi biển, di chỉ khảo cổ học, các di tích lịch sử và kinh thánh, và địa lý độc đáo. Vấn đề an ninh của Israel gây tổn hại cho ngành du lịch, song số lượng du khách phục hồi sau Đại khởi nghĩa của người Palestine.
387
Năm 2013, một báo cáo cho hay 3,54 triệu du khách đến Israel, địa điểm phổ biến nhất là Bức tường Than khóc với 68% du khách đến đó.
388
389
Israel có số lượng bảo tàng bình quân đầu người cao nhất trên thế giới.
390
Nhân khẩu
sửa
sửa mã nguồn
Di cư đến Israel trong giai đoạn 1948–2015. Các năm đạt đỉnh là 1949 và 1990.
Năm 2022, dân số Israel ước tính đạt 9,660,320
người, trong đó 7,110,000 (73,6%) được ghi trong hồ sơ là người Do Thái.
391
1.808.000 người Ả Rập chiếm 21,1% dân số, trong khi những người Cơ Đốc giáo phi Ả Rập và người không tôn giáo theo đăng ký dân sự chiếm 4,8%.
392
393
Trong khoảng thập niên đầu của thế kỷ XXI, có lượng lớn công nhân di cư đến từ Romania, Thái Lan, Trung Quốc, châu Phi, và Nam Mỹ định cư tại Israel. Không rõ số liệu chính xác do nhiều người cư trú bất hợp pháp tại Israel,
394
song có ước tính là 203.000.
395
Đến tháng 6 năm 2012, có khoảng 60.000 di dân châu châu Phi nhập cảnh Israel.
396
Khoảng 92% người Israel cư trú tại các khu vực đô thị.
397
Tình trạng người Do Thái di cư từ Israel (được gọi là yerida trong tiếng Hebrew), chủ yếu là đến Hoa Kỳ và Canada, được các nhà nhân khẩu học mô tả là khiêm tốn,
398
song các cơ quan chính phủ Israel thường dẫn ra như một mối đe dọa lớn đến tương lai của quốc gia.
399
400
Năm 2016
cập nhật
, 399.300 người Israel cư trú tại các khu định cư Bờ Tây,
254
như
Ma'ale Adumim

Ariel
, bao gồm các khu định cư có từ trước khi thành lập Nhà nước Israel và được tái lập sau Chiến tranh Sáu Ngày, tại các thành phố như
Hebron

Gush Etzion
. Năm 2011, có 250.000 người Do Thái cư trú tại Đông Jerusalem.
401
20.000 người Israel cư trú tại các khu định cư trên Cao nguyên Golan. Tổng dân số người cư trú tại các khu định cư Israel là trên 500.000 (6,5% dân số Israel). Khoảng 7,800 người Israel cư trú tại các khu định cư thuộc Dải Gaza cho đến khu họ bị chính phủ Israel di dời theo kế hoạch triệt thoái năm 2015.
402
Israel được thành lập làm tổ quốc cho người Do Thái và thường được gọi là nhà nước Do Thái. Luật Trở về của Israel trao cho toàn bộ người Do Thái và những người có tổ tiên Do Thái quyền có tư cách công dân Israel.
403
Ba phần tư dân số là người Do Thái, song họ có xuất thân đa dạng. Khoảng 4% người Israel (300.000) được xác định dân tộc vào mục "khác", họ là những hậu duệ người Nga có tổ tiên hoặc dòng dõi Do Thái, họ không phải là người Do Thái theo luật rabi, song đủ tư cách có quyền công dân Israel theo Luật Trở về.
404
405
406
Năm 2017, khoảng 77% người Do Thái Israel sinh tại Israel, 16% là người nhập cư từ châu Âu và châu Mỹ, và 7% là người nhập cư từ châu Á và châu Phi (kể cả Thế giới Ả Rập).
407
Người Do Thái từ châu Âu và Liên Xô cũ cùng hậu duệ của họ sinh tại Israel, gồm nhóm Ashkenazi, chiếm khoảng 50% người Do Thái Israel. Người Do Thái đến từ các quốc gia Ả Rập và Hồi giáo cùng hậu duệ của họ, gồm nhóm Mizrahi và Sephardi
408
chiếm hầu hết số người Do Thái còn lại tại Israel.
409
410
411
Tỷ lệ liên hôn Do Thái tăng đến trên 35% và các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng tỷ lệ người Israel có nguồn gốc từ cả hai nhóm Sephardi và Ashkenazi tăng trưởng 0,5 phần trăm mỗi năm, với trên 25% học sinh hiện có nguồn gốc từ cả hai cộng đồng.
412
20 thành phố hoặc thị xã lớn nhất Israel
Cục Thống kê Trung ương Israel
413
Hạng
Tên
Quận
Dân số
Hạng
Tên
Quận
Dân số
Jerusalem
Tel Aviv
Jerusalem
Jerusalem
865.700
11
Ramat Gan
Tel Aviv
152.600
Haifa
Rishon LeZion
Tel Aviv
Tel Aviv
432.900
12
Rehovot
Trung
132.700
Haifa
Haifa
278.900
13
Ashkelon
Nam
130.700
Rishon LeZion
Trung
244.000
14
Bat Yam
Tel Aviv
128.900
Petah Tikva
Trung
231.000
15
Beit Shemesh
Jerusalem
103.900
Ashdod
Nam
220.200
16
Kfar Saba
Trung
96.900
Netanya
Trung
207.900
17
Herzliya
Tel Aviv
91.900
Beersheba
Nam
203.600
18
Hadera
Haifa
88.800
Holon
Tel Aviv
188.800
19
Modi'in-Maccabim-Re'ut
Trung
88.700
10
Bnei Brak
Tel Aviv
182.800
20
Nazareth
Bắc
75.700
^a
Số liẹu này bao gồm các khu vực
Đông Jerusalem

Bờ Tây
. Chủ quyền của Israel đối với Đông Jerusalem không được quốc tế công nhận.
Ngôn ngữ
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Tiếng Hebrew
Ký hiệu đường được viết bằng 3 thứ tiếng Hebrew, Ả Rập và Anh
Israel có hai ngôn ngữ chính thức là tiếng Hebrew và tiếng Ả Rập.
22
Hebrew là ngôn ngữ chính của quốc gia và được đa số cư dân nói hàng ngày. Người thiểu số Ả Rập nói tiếng Ả Rập, và tiếng Hebrew được dạy tại các trường học Ả Rập.
Do là một quốc gia của người nhập cư, nhiều ngôn ngữ hiện diện tại Israel. Do nhập cư hàng loạt từ Liên Xô cũ và Ethiopia (khoảng 130.000 người Do Thái Ethiopia cư trú tại Israel),
414
415
nên tiếng Nga và
tiếng Amhara
được nói phổ biến.
416
Trên một triệu người nhập cư nói tiếng Nga đến Israel từ các quốc gia Liên Xô cũ từ năm 1990 đến năm 2004.
417
Khoảng 700.000 người Israel nói tiếng Pháp,
418
hầu hết nhóm này có nguồn gốc từ Pháp và Bắc Phi. Tiếng Anh là một ngôn ngữ chính thức trong thời kỳ Ủy thác; nó mất vị thế này sau khi Israel hình thành, song giữ được một vai trò tương đương một ngôn ngữ chính thức,
419
420
421
như có thể thấy trong các bảng hiệu đường bộ và văn kiện chính thức. Nhiều người Israel giao tiếp khá tốt bằng tiếng Anh, do nhiều chương trình truyền hình được phát bằng tiếng Anh cùng phụ đề và ngôn ngữ này được dạy từ các lớp đầu trong trường tiểu học. Ngoài ra, các đại học tại Israel cung cấp khóa trình bằng tiếng Anh cho nhiều môn học khác nhau.
422
Tôn giáo
sửa
sửa mã nguồn
Tôn giáo tại Israel (2016)
423
Do Thái giáo (74.71%)
Hồi giáo (17.66%)
Công giáo Roma (1.95%)
Druze giáo (1.61%)
Không tôn giáo (4.07%)
Thánh đường Đỉnh Đá và
Bức tường Than Khóc
tại Jerusalem
74% người dân Israel theo
Do Thái giáo
. Liên hệ tôn giáo của người Do Thái Israel có bất đồng lớn: Một nghiên cứu xã hội vào năm 2016 cho thấy rằng 49% tự nhận là Hiloni (thế tục), 29% là Masorti (truyền thống), 13% là Dati (mộ đạo) và 9% là Haredi (Siêu Chính Thống).
424
Người Do Thái Haredi được dự kiến sẽ chiếm trên 20% dân số Do Thái Israel vào năm 2028.
425
Người Hồi giáo chiếm 17,6% dân số Israel và là cộng đồng thiểu số tôn giáo lớn nhất tại đây. Khoảng 2% dân số là tín đồ Cơ Đốc giáo và 1,6% là tín đồ
Druze
22
Dân số Cơ Đốc giáo chủ yếu gồm người Cơ Đốc giáo Ả Rập, song cũng có các di dân hậu Liên Xô, lao động ngoại quốc đến từ nhiều quốc gia, và những người theo Do Thái giáo Chúa cứu thế- bị hầu hết người Cơ Đốc giáo và Do Thái giáo cho là một dạng của Cơ Đốc giáo.
426
Thành viên của nhiều nhóm tôn giáo khác, như Phật giáo và Ấn Độ giáo, duy trì hiện diện tại Israel dù có số lượng nhỏ.
427
Trong số hơn một triệu di dân từ Liên Xô cũ tại Israel, có khoảng 300.000 người bị giáo sĩ chính thống cho là không phải người Do Thái.
428
Thành phố Jerusalem có tầm quan trọng đặc biệt đối với người Do Thái, Hồi giáo và Cơ Đốc giáo do tại đây có các địa điểm chủ chốt trong đức tin tôn giáo của họ, như trong khu
Thành cổ

Bức tường Than Khóc

Núi Đền
Nhà thờ Hồi giáo Al-Aqsa

Nhà thờ Mộ Thánh
429
Các địa điểm tôn giáo quan trọng khác tại Israel là
Nazareth
(linh thiêng trong Cơ Đốc giáo do là nơi lễ truyền tin của
Maria
),
Tiberias

Safed
(hai trong số bốn thành phố linh thiêng trong Do Thái giáo), Thánh đường Trắng tại
Ramla
(linh thiêng trong Hồi giáo vì là nơi thờ nhà tiên tri
Saleh
), và Nhà thờ Thánh George tại
Lod
(linh thiêng trong Cơ Đốc giáo và Hồi giáo vì là lăng mộ của
Thánh George
hay
Al Khidr
). Một số địa danh tôn giáo khác nằm tại Bờ Tây, như Lăng mộ Giuse tại
Nablus
sinh quán của Giêsu
và Lăng mộ Rachel tại
Bethlehem
, và Hang các Thượng phụ tại
Hebron
. Trung tâm hành chính của Đức tin
Bahá'í

Đền thờ Báb
nằm tại Trung tâm Thế giới Bahá'í tại Haifa; thủ lĩnh của đức tin được táng tại
Acre
. Ngoài nhân viên bảo trì, không có cộng đồng Bahá'í tại Israel, song đây là nơi các tín đồ Bahá'í hành hương. Nhân viên Bahá'í tại Israel không truyền dạy đức tin của mình cho người Israel do tuân theo chính sách nghiêm ngặt.
430
431
432
Giáo dục
sửa
sửa mã nguồn
Bài chi tiết:
Giáo dục Israel
Trung tâm Nghiên cứu trí tuệ đa ngành tại Đại học Bar-Ilan
Giáo dục được xem trọng cao độ trong văn hóa Israel, được nhận định là một trong các nền tảng cơ bản trong sinh hoạt của người Israel cổ đại.
433
Các cộng đồng Do Thái tại Levant là những người đầu tiên áp dụng giáo dục nghĩa vụ, do đó cộng đồng có tổ chức sẽ chịu trách nhiệm về giáo dục cho thế hệ tương lai của người Do Thái bên cạnh cha mẹ.
434
Hệ thống giáo dục Israel được tán dương vì nhiều nguyên nhân, bao gồm chất lượng cao và có vai trò lớn trong khích lệ bùng nổ phát triển kinh tế và kỹ thuật của Israel.
328
Do kinh tế Israel dựa phần lớn vào khoa học và kỹ thuật, thị trường lao động yêu cầu cá nhân cần đạt được một dạng giáo dục bậc đại học nào đó, đặc biệt là liên quan đến khoa học và kỹ thuật để có lợi thế cạnh tranh khi tìm việc. Năm 2015, quốc gia này xếp thứ ba trong các quốc gia OECD (sau Canada và Nhật Bản) về tỷ lệ người trong độ tuổi 25-64 đạt được trình độ đại học là 49%, trong khi tỷ lệ trung bình của OECD là 35%.
435
Ngoài ra, Israel có tỷ lệ người trong độ tuổi 55–64 sở hữu bằng đại học là 47% vào năm 2013, trong khi mức bình quân của OECD là 25%.
436
437
Năm 2012, Israel xếp hạng ba thế giới về số bằng đại học bình quân (20% dân số).
438
439
Người Israel có số năm đi học binh quân là 15,5
440
và tỷ lệ biết chữ đạt 97,1% theo Liên Hợp Quốc.
441
Luật Giáo dục Nhà nước được thông qua vào năm 1953, lập ra năm loại trường học: thế tục nhà nước, tôn giáo nhà nước, chính thống giáo cực độ, trường học khu định cư cộng đồng, và trường học Ả Rập. Thế tục công cộng là loại trường học lớn nhất, đa số học sinh Do Thái và phi Ả Rập theo học tại đó. Hầu hết người Ả Rập đưa con mình đến các trường học có ngôn ngữ giảng dạy là tiếng Ả Rập.
442
Giáo dục là nghĩa vụ tại Israel đối với trẻ em từ 3-18 tuổi.
443
444
Trường học được chia thành ba cấp
– trường tiểu học (lớp 1–6), trường trung học cơ sở (lớp 7–9), và trường trung học phổ thông (lớp 10–12)
– cực đỉnh là kỳ thi Bagrut để được công nhận hoàn thành 12 năm học. Năng lực về các môn học chủ chốt như toán học, tiếng Hebrew và văn học tổng thể, tiếng Anh, lịch sử, kinh thánh và dân quyền là cần thiết để nhận được giấy chứng nhận Bagrut.
445
Trong các trường học Ả Rập, Cơ Đốc giáo và Druze, môn thi nghiên cứu kinh thánh được thay thế bằng môn thi về di sản tín hữu Hồi giáo, Cơ Đốc giáo hoặc Druze.
446
Người Ả Rập Cơ Đốc giáo có thành tích giáo dục tốt nhất so với các nhóm khác tại Israel.
447
Trẻ em Israel xuất thân từ các gia đình nói tiếng Nga có tỷ lệ đỗ bagrut cao hơn mức bình quân.
448
In 2014, 61,5% số người có bằng hoàn thành lớp 12 có giấy chứng nhận trúng tuyển đại học.
449
Israel có chín đại học công lập được nhà nước trợ cấp, và 49 học viện tư nhân.
445
450
451
Đại học Hebrew Jerusalem là đại học lâu năm thứ hai tại Israel sau
Technion
452
453
bao gồm Thư viện Quốc gia Israel.
454
Technion, Đại học Hebrew, và Học viện Weizmann lần lượt nằm trong 100 đại học hàng đầu thế giới theo
xếp hạng
của
Đại học Giao thông Thượng Hải
năm 2013.
455
456
457
Đại học Hebrew Jerusalem và Đại học Tel Aviv nằm trong 100 đại học hàng đầu thế giới theo tạp chí
Times Higher Education
năm 2012.
458
Các đại học lớn khác tại Israel là Đại học Bar-Ilan, Đại học Haifa, Đại học Mở Israel, và Đại học Ben-Gurion Negev. Bảy đại học nghiên cứu của Israel (ngoại trừ Đại học Mở) lần lượt nằm trong danh sách 500 đại học hàng đầu thế giới.
459
Văn hóa
sửa
sửa mã nguồn
Văn hóa đa dạng của Israel bắt nguồn từ sự đa dạng về dân cư: người Do Thái từ các cộng đồng tha hương khắp thế giới đem các truyền thống văn hóa và tôn giáo theo mình khi họ nhập cư, tạo ra sự dung hợp của các phong tục và đức tin Do Thái.
460
Israel là quốc gia duy nhất trên thế giới có sinh hoạt dựa theo lịch Hebrew. Các ngày lễ công cộng và trường học được gắn với các ngày lễ Do Thái giáo, và ngày nghỉ chính thức trong tuần là Thứ Bảy, tức ngày cầu nguyện
Shabbat
của người Do Thái.
461
Cộng đồng Ả Rập thiểu số tại Israel cũng khắc dấu ấn trong văn hóa Israel trong các phạm vi kiến trúc,
462
âm nhạc,
463
và ẩm thực.
464
Các tác phẩm của
Amos Oz
được dịch ra 36 ngôn ngữ, nhiều hơn bất kỳ nhà văn Israel nào khác (đến năm 2009).
465
Văn học Israel chủ yếu là thơ và văn xuôi viết bằng tiếng Hebrew, là bộ phận của quá trình phục hưng tiếng Hebrew ở dạng nói từ thế kỷ XIX, song có một bộ phận nhỏ văn học được xuất bản bằng các ngôn ngữ khác như tiếng Anh. Theo luật, hai bản sao của toàn bộ ấn phẩm xuất bản tại Israel cần phải lưu tại Thư viện Quốc gia Israel. Năm 2001, luật được sửa đổi để bao trùm các âm thanh và đoạn phim, cùng các truyền thông phi in ấn khác.
466
Năm 2015, 85
% trong số 7.843 sách chuyển đến thư viện được viết bằng tiếng Hebrew.
467
Năm 1966,
Shmuel Yosef Agnon
cùng đoạt giải Nobel Văn học cùng tác giả người Do Thái Đức
Nelly Sachs
468
Các nhà thơ hàng đầu Israel là Yehuda Amichai, Nathan Alterman và Rachel Bluwstein. Các nhà văn Israel đương đại nổi tiếng quốc tế gồm có
Amos Oz
, Etgar Keret và David Grossman. Nhà thơ trào phúng người Ả Rập Israel Sayed Kashua cũng được quốc tế biết đến. Israel cũng là nơi có hai tác giả người Palestine hàng đầu: Emile Habibi và Mahmoud Darwish được nhiều người nhìn nhận là "nhà thơ quốc dân Palestine".
469
Dàn nhạc giao hưởng Israel do
Zubin Mehta
chỉ huy
Âm nhạc Israel chịu ảnh hưởng từ toàn cầu; âm nhạc Sephardic, giai điệu Hasidic, âm nhạc
múa bụng
, âm nhạc Hy Lạp,
jazz
, và
pop rock
đều là một phần của âm nhạc.
470
471
Trong số dàn nhạc nổi tiếng thế giới của Israel
472
473
có Dàn nhạc Giao hưởng Israel hoạt động được hơn bảy mươi năm và nay trình diễn trên hai trăm buổi mỗi năm.
474
Israel cũng có nhiều nhạc sĩ đáng chú ý, một số trở thành ngôi sao quốc tế.
Itzhak Perlman
, Pinchas Zukerman và Ofra Haza nằm trong số các nhạc sĩ được hoan nghênh quốc tế sinh tại Israel. Israel tham gia thi đấu tại
Eurovision Song Contest
gần như mọi năm kể từ năm 1973, giành chiến thắng trong bốn lần và hai lần tổ chức giải.
475
476
Eilat
là nơi tổ chức Lễ hội Jazz Biển Đỏ, được tổ chức mỗi mùa hè kể từ năm 1987.
477
Các bài hát dân ca kinh điển của quốc gia, gọi là "các bài ca của Vùng đất Israel," có liên quan đến kinh nghiệm của những người tiên phong trong kiến thiết quê hương Do Thái.
478
Vũ điệu vòng tròn Hora được những người định cư Do Thái ban đầu giới thiệu, nó trước tiên phổ biến tại các cộng đồng Kibbutz và ngoại vi. Nó trở thành một biểu trưng của tái thiết phục quốc Do Thái và khả năng trải nghiệm niềm vui giữa cảnh khắc khổ. Nó hiện đóng một vai trò quan trọng trong dân vũ Israel và được biểu diễn thường xuyên trong các đám cưới và sự kiện khác, và trong các bài nhảy nhóm khắp Israel.
Israel là nơi cư trú của nhiều nhạc sĩ Palestine, trong đó có bậc thầy đàn oud và violin Taiseer Elias, ca sĩ
Amal Murkus
, và anh em Samir và Wissam Joubran. Các nhạc sĩ Ả Rập Israel có danh tiếng vượt khỏi biên giới: Elias và Murkus thường xuyên trình diễn cho khán giả tại châu Âu và châu Mỹ.
Mười bộ phim Israel được đề cử chung kết cho
giải Oscar cho phim ngoại ngữ hay nhất
từ khi Israel lập quốc. Phim Ajami năm 2009 là đề cử thứ ba liên tiếp của một phim Israel.
479
Các nhà làm phim Israel-Palestine đã làm một số phim liên quan đến xung đột Ả Rập-Israel và tình trạng của người Palestine trong Israel.
Kế tục truyền thống sân khấu mạnh mẽ của sân khấu Yiddish tại
Đông Âu
, Israel duy trì cảnh tượng sân khấu sôi động. Sân khấu Habima tại Tel Aviv được thành lập vào năm 1918 và là sân khấu quốc gia của Israel.
480
Năm 2016, Israel được xếp hạng 65 theo báo cáo tự do báo chí của
Freedom House
, đứng đầu tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi.
481
Trong
Xếp hạng về tự do báo chí
của
Phóng viên không biên giới
, Israel (bao gồm "Israel ngoại lãnh thổ" từ xếp hạng năm 2013)
482
xếp thứ 101 trong số 180 quốc gia, đứng thứ ba tại Trung Đông và Bắc Phi sau
Tunisia
(hạng 96) và
Liban
(hạng 98).
483
Đền thờ Sách
, nơi lưu giữ các
Các cuộn sách Biển Chết
ở Jerusalem
Israel có tỷ lệ bảo tàng bình quân đầu người nhiều nhất thế giới.
484
Bảo tàng Israel tại Jerusalem là một trong các thể chế văn hóa tối quan trọng của quốc gia
485
và lưu giữ các Cuộn giấy Biển Chết,
486
cùng bộ sưu tập lớn về nghệ thuật Do Thái và châu Âu.
485
Bảo tàng
Holocaust
quốc gia của Israel là
Yad Vashem
, đây là trung tâm lưu trữ thế giới về các thông tin liên quan đến Holocaust.
487
Beth Hatefutsoth (bảo tàng tha hương) trong khuôn viên Đại học Tel Aviv là một bảo tàng tương tác dành cho lịch sử của các cộng đồng Do Thái khắp thế giới.
488
Ngoài các bảo tàng lớn tại các đô thị lớn, còn có các không gian nghệ thuật chất lượng cao tại nhiều thị trấn và kibbutz. Mishkan Le'Omanut tại Kibbutz
Ein Harod Meuhad
là bảo tàng nghệ thuật lớn nhất tại miền bắc của Israel.
489
Ẩm thực Israel gồm các món ăn bản địa cũng như các món ăn được di dân Do Thái đưa đến. Từ khi lập quốc vào năm 1948, và đặc biệt là từ cuối thập niên 1970, một nền ẩm thực dung hợp Israel đã phát triển.
490
Khoảng một nửa cư dân Do Thái Israel duy trì chế độ ăn uống Do Thái
kosher
tại nhà.
491
492
Các nhà hàng kosher hiếm thấy trong thập niên 1960, song tăng lên khoảng 25%
tính đến năm 2015
cập nhật
, có lẽ phản ánh các giá trị phần lớn là thế tục của những thực khách.
490
Các nhà hàng khách sạn có nhiều khả năng phục vụ thực phẩm kosher.
490
Thị trường bán lẻ phi kosher vốn thưa thớt, song phát triển nhanh chóng và đáng kể sau khi có dòng người nhập cư từ Đông Âu và Nga trong thập niên 1990.
493
Cùng với cá, thỏ và đà điểu phi kosher, thì thịt lợn, thường gọi là "thịt trắng" tại Israel
493
vẫn được sản xuất và tiêu thụ bất chấp việc bị cả Do Thái giáo và Hồi giáo cấm chỉ.
494
Thể thao
sửa
sửa mã nguồn
Một trận thi đấu bóng đá tại
Haifa
Israel giành được huy chương vàng Thế vận hội đầu tiên trong nội dung lướt ván buồm tại
Thế vận hội Mùa hè 2004
495
Israel giành được hơn 100 huy chương vàng tại
Thế vận hội dành cho người khuyết tật
. Thế vận hội Mùa hè người khuyết tật năm 1968 được tổ chức tại Israel.
496
Đại hội thể thao Maccabiah là một sự kiện theo thể thức thế vận hội dành cho các vận động viên Do Thái và các vận động viên Israel, sự kiện được bắt đầu từ thập niên 1930, và từ đó được tổ chức bốn năm một lần.
Các môn thể thao có đông khán giả nhất tại Israel là bóng đá và bóng rổ.
497
Giải Ngoại hạng Israel là giải bóng đá cấp cao nhất toàn quốc, và Giải bóng rổ siêu cấp Israel là giải cấp cao nhất.
498
Maccabi Haifa, Maccabi Tel Aviv, Hapoel Tel Aviv và Beitar Jerusalem là các câu lạc bộ thể thao lớn nhất. Maccabi Tel Aviv, Maccabi Haifa và Hapoel Tel Aviv thi đấu tại
Giải bóng đá vô địch các câu lạc bộ châu Âu
và Hapoel Tel Aviv từng vào đến trận tứ kết giải này. Maccabi Tel Aviv B.C. nhiều lần giành chức vô địch tại giải vô địch bóng rổ châu Âu.
499
Năm 1964, Israel đăng cai và giành chức vô địch
Giải các quốc gia châu Á
; năm 1970
đội tuyển bóng đá quốc gia Israel
đủ điều kiện tham gia
Giải bóng đá vô địch thế giới
, đây là lần duy nhất họ tham dự World Cup.
Đại hội Thể thao châu Á 1974
tổ chức tại
Tehran
là lần cuối cùng Israel tham gia đại hội này, và chịu tổn hại do các quốc gia Ả Rập từ chối thi đấu với Israel. Israel bị trục xuất khỏi
Đại hội Thể thao châu Á 1978
và từ đó không tham gia đại hội này.
500
Năm 1994,
Liên đoàn bóng đá châu Âu
chấp thuận nhận Israel và các đội tuyển bóng đá Israel nay thi đấu tại giải của châu Âu.
Cờ vua là một môn thể thao hàng đầu tại Israel và được mọi lứa tuổi hưởng ứng. Có nhiều đại kiện tướng và kỳ thủ Israel giành một số giải vô địch thế giới trẻ.
501
Israel tổ chức một giải vô địch quốc tế thường niên và đăng cai Giải vô địch cờ vua đội tuyển thế giới năm 2005. Bộ Giáo dục và
Liên đoàn Cờ vua Thế giới
đồng ý về một kế hoạch dạy cờ vua trong các trường học Israel, và nó được đưa vào chương trình giảng dạy tại một số trường.
502
503
504
Thành phố
Beersheba
trở thành một trung tâm cờ vua quốc gia, trò chơi này được dạy trong các nhà trẻ của thành phố. Một phần nhờ vào các di dân Liên Xô cũ, đây là thành phố có số lượng đại kiện tướng cờ vua cao nhất thế giới.
505
506
Nhà vô địch quần vợt Israel
Shahar Pe'er
xếp hạng 11 thế giới vào ngày 31 tháng 1 năm 2011.
Krav Maga
là một môn võ thuật phát triển trong các khu người Do Thái khi đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít tại châu Âu, nó được lực lượng an ninh và cảnh sát Israel sử dụng và được học khắp thế giới.
507
Ghi chú
sửa
sửa mã nguồn

-/
tiếng Hebrew
יִשְׂרָאֵל
romanised:
Yīsrāʾēl
jisʁaˈʔel
tiếng Ả Rập
إِسْرَائِيل
romanised:
ʾIsrāʾīl
tiếng Hebrew
מְדִינַת יִשְׂרָאֵל
romanised:
Medīnat Yīsrāʾēl
mediˈnat
jisʁaˈʔel
tiếng Ả Rập
دَوْلَة إِسْرَائِيل
romanised:
Dawlat Isrāʾīl
Các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel:
Úc
Tây Jerusalem
),
Nga
Tây Jerusalem
),
Cộng hòa Séc
Tây Jerusalem
),
Honduras
Guatemala
Nauru

Hoa Kỳ
Vào tháng 9 năm 2020, có tin rằng Serbia sẽ chuyển đại sứ quán của mình từ Tel Aviv đến Jerusalem.
Tiếng Ả Rập trước đây là ngôn ngữ chính thức của Nhà nước Israel.
10
Năm 2018, tiếng Ả Rập
bị hạ cấp
thành 'trạng thái đặc biệt', nhưng vẫn được sử dụng trong bộ máy chính quyền.
11
12
13
Dữ liệu kinh tế và dân số của Israel được tính trên lãnh thổ kinh tế Israel, bao gồm Cao nguyên Golan, Đông Jerusalem và các khu định cư của Israel ở Bờ Tây.
17
18
Tham khảo
sửa
sửa mã nguồn
"Australia recognises West Jerusalem as Israeli capital"
BBC News
. ngày 15 tháng 12 năm 2018
. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2020
"Foreign Ministry statement regarding Palestinian-Israeli settlement"
www.mid.ru
. ngày 6 tháng 4 năm 2017.
"Czech Republic announces it recognizes West Jerusalem as Israel's capital"
Jerusalem Post
. ngày 6 tháng 12 năm 2017
. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017
The Czech Republic currently, before the peace between Israel and Palestine is signed, recognizes Jerusalem to be in fact the capital of Israel in the borders of the demarcation line from 1967." The Ministry also said that it would only consider relocating its embassy based on "results of negotiations.
"Honduras recognizes Jerusalem as Israel's capital"
The Times of Israel
. ngày 29 tháng 8 năm 2019.
"Guatemala se suma a EEUU y también trasladará su embajada en Israel a Jerusalén"
Guatemala joins US, will also move embassy to Jerusalem
Infobae
(bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 24 tháng 12 năm 2017.
Guatemala's embassy was located in Jerusalem until the 1980s, when it was moved to Tel Aviv.
"Nauru recognizes J'lem as capital of Israel"
Israel National News
(bằng tiếng Anh). ngày 29 tháng 8 năm 2019.
"Trump Recognizes Jerusalem as Israel's Capital and Orders U.S. Embassy to Move"
The New York Times
. ngày 6 tháng 12 năm 2017
. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017
Frot, Mathilde (ngày 4 tháng 9 năm 2020).
"Kosovo to normalise relations with Israel"
The Jewish Chronicle
. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2020
"Kosovo and Serbia hand Israel diplomatic boon after US-brokered deal"
The Guardian
. ngày 4 tháng 9 năm 2020
. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2020
"Arabic in Israel: an official language and a cultural bridge"
Israel Ministry of Foreign Affairs
. ngày 18 tháng 12 năm 2016
. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2018
"Israel Passes 'National Home' Law, Drawing Ire of Arabs"
The New York Times
(bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 7 năm 2018.
Lubell, Maayan (ngày 19 tháng 7 năm 2018).
"Israel adopts divisive Jewish nation-state law"
Reuters
"Press Releases from the Knesset"
Knesset website
. ngày 19 tháng 7 năm 2018.
The Arabic language has a special status in the state; Regulating the use of Arabic in state institutions or by them will be set in law.
"Surface water and surface water change"
. Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD)
. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2020
"Thông cáo báo chí Ngày Độc lập Israel 2025"
"Khu vực địa lý – Toàn quốc"
Dữ liệu Tổng điều tra dân số 2022
Cục Thống kê Trung ương Israel
. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2024
OECD 2011
Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFOECD2011 (
trợ giúp
Quarterly Economic and Social Monitor
Lưu trữ
ngày 9 tháng 10 năm 2021 tại
Wayback Machine
, Volume 26, October 2011, p. 57: "When Israel bid in March 2010 for membership in the 'Organization for Economic Co-operation and Development'... some members questioned the accuracy of Israeli statistics, as the Israeli figures (relating to gross domestic product, spending and number of the population) cover geographical areas that the Organization does not recognize as part of the Israeli territory. These areas include East Jerusalem, Israeli settlements in the West Bank and the Golan Heights."
"Cơ sở dữ liệu Triển vọng Kinh tế Thế giới, ấn bản tháng 4 năm 2025 (Israel)"
www.imf.org
Quỹ Tiền tệ Quốc tế
. ngày 22 tháng 4 năm 2025
. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2025
"Hệ số Gini"
The World Factbook
. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2024
"Báo cáo Phát triển Con người 2025"
(PDF)
Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc
. ngày 6 tháng 5 năm 2025.
Lưu trữ
(PDF)
bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2025
. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2025
10
"Israel"
The World Factbook
. Central Intelligence Agency. ngày 20 tháng 11 năm 2012.
Bản gốc
lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2016
. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2012
Skolnik 2007
Lustick, Ian (1997).
"Has Israel Annexed East Jerusalem?"
Middle East Policy
. Quyển
V số
1. Washington, D.C.: Wiley-Blackwell. tr.
34–
45.
doi
10.1111/j.1475-4967.1997.tb00247.x
ISSN
1061-1924
OCLC
4651987544
Bản gốc
(PDF)
lưu trữ ngày 20 tháng 11 năm 2009
. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2013
"Jerusalem must be capital of both Israel and Palestine, Ban says"
. UN News Centre. United Nations News Centre. ngày 28 tháng 10 năm 2009
. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2015
Basic Law: Jerusalem, Capital of Israel'
. Knesset
. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2013
Hy An (ngày 17 tháng 5 năm 2018).
"8 điều nổi bật về vùng đất thiêng Jerusalem"
Báo điện tử VnExpress
Galnoor, Itzhak (1995).
The Partition of Palestine: Decision Crossroads in the Zionist Movement
. SUNY Press.
{{
Chú thích sách
}}
: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (
liên kết
Harris, J. (1998)
The Israeli Declaration of Independence
Lưu trữ
ngày 3 tháng 3 năm 2016 tại
Wayback Machine
The Journal of the Society for Textual Reasoning
, Vol. 7
"Declaration of Establishment of State of Israel"
(bằng tiếng Anh). Israel Ministry of Foreign Affairs. ngày 14 tháng 5 năm 1948
. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2012
Brenner, Michael; Frisch, Shelley (tháng 4 năm 2003).
Zionism: A Brief History
. Markus Wiener Publishers. tr.
184.
{{
Chú thích sách
}}
: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (
liên kết
"Zionist Leaders: David Ben-Gurion 1886–1973"
(bằng tiếng Anh). Israel Ministry of Foreign Affairs
. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2011
"Declaration of Establishment of State of Israel
Israel Ministry of Foreign Affairs"
(bằng tiếng Anh).
The Arab-Israeli War of 1948 (US Department of State, Office of the Historian)
"Arab forces joining the Palestinian Arabs in attacking territory in the former Palestinian mandate."
Yoav Gelber
Palestine 1948
, 2006 — Chap.8 "The Arab Regular Armies' Invasion of Palestine".
Gilbert 2005
, tr.
"The status of Jerusalem"
(PDF)
The Question of Palestine & the United Nations
. United Nations Department of Public Information.
East Jerusalem has been considered, by both the General Assembly and the Security Council, as part of the occupied Palestinian territory.
{{
Chú thích sách
}}
: Quản lý CS1: postscript (
liên kết
Ambassador of Israel to the European Union and NATO.
"WEF Global Competitiveness Report 2015-2016: Israel rated 3rd most innovative country in the world"
embassies.gov.il
"WHO: Life expectancy in Israel among highest in the world"
Haaretz
(bằng tiếng Anh). Associated Press. ngày 24 tháng 5 năm 2009.
Nguyên Phong (ngày 24 tháng 3 năm 2020).
"Bí mật về chương trình hạt nhân của Israel"
vietnamnet.vn
Sơn Duân (ngày 21 tháng 9 năm 2014).
"Hồ sơ vũ khí hạt nhân Israel"
Báo Thanh Niên
Vĩ Cường (theo THE JERUSALEM POST) (ngày 19 tháng 6 năm 2019).
"Tiết lộ khủng: Israel có gần 100 vũ khí hạt nhân"
Báo điện tử Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh
"And he said, Thy name shall be called no more Jacob, but Israel: for as a prince hast thou power with God and with men, and hast prevailed." (
Genesis
, 32:28, 35:10). See also
Hosea 12:5
Lưu trữ
ngày 5 tháng 10 năm 2018 tại
Wayback Machine
"And the Lord thy God will bring thee into the land which thy fathers possessed, and thou shalt possess it; and he will do thee good, and multiply thee above thy fathers." (
Deuteronomy 30:5
).
"But if ye return unto me, and keep my commandments and do them, though your dispersed were in the uttermost part of the heaven, yet will I gather them from thence, and will bring them unto the place that I have chosen to cause my name to dwell there." (
Nehemiah 1:9
).
"Walking the Bible Timeline"
Walking the Bible
. Public Broadcast Television
. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2007
Friedland
Hecht 2000
, tr.
. "For a thousand years Jerusalem was the seat of Jewish sovereignty, the household site of kings, the location of its legislative councils and courts."
Ben-Sasson 1985
Matthews, Victor H.
(2002).
A Brief History of Ancient Israel
. Westminster John Knox Press. tr.
192.
ISBN
978-0-664-22436-3
Miller, J. Maxwell; Hayes, John Haralson (1986).
A History of Ancient Israel and Judah
. Westminster John Knox Press. tr.
523.
ISBN
978-0-664-21262-9
Stager in Coogan 1998, p. 91.
cần chú thích đầy đủ
Dever, William G. (2003).
Who Were the Early Israelites and Where Did They Come From?
. Grand Rapids, MI: Wm. B. Eerdmans Publishing Co. tr.
206
Miller 1986, pp. 78–9.
Bản mẫu:Title?
McNutt 1999, p. 70.
Bản mẫu:Title?
Miller 2005, p. 98.
Bản mẫu:Title?
McNutt 1999, p. 72.
Bản mẫu:Title?
Miller 2005, p. 99.
Bản mẫu:Title?
Miller 2005, p. 105.
Bản mẫu:Title?
Lehman in Vaughn 1992, pp. 156–62.
cần chú thích đầy đủ
Gnuse 1997, pp.28,31
Bản mẫu:Title?
column 2 line 61 to column 3 line 49
Lưu trữ
ngày 28 tháng 10 năm 2014 tại
Wayback Machine
"British Museum – Cuneiform tablet with part of the Babylonian Chronicle (605–594 BC)"
Bản gốc
lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2014
. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2014
See
Lưu trữ
ngày 4 tháng 6 năm 2011 tại
Wayback Machine
reverse side, line 12.
Oppenheimer, A'haron and Oppenheimer, Nili.
Between Rome and Babylon: Studies in Jewish Leadership and Society
. Mohr Siebeck, 2005, p. 2.
Cohn-Sherbok, Dan (1996).
Atlas of Jewish History
. Routledge. tr.
58
ISBN
978-0-415-08800-8
Lehmann, Clayton Miles (ngày 18 tháng 1 năm 2007).
"Palestine"
Encyclopedia of the Roman Provinces
. University of South Dakota.
Bản gốc
lưu trữ ngày 7 tháng 4 năm 2013
. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2013
Morçöl 2006
, tr.
304
Judaism in late antiquity, Jacob Neusner, Bertold Spuler, Hady R Idris, BRILL, 2001, p. 155
Gil, Moshe (1997).
A History of Palestine, 634–1099
. Cambridge University Press.
ISBN
978-0-521-59984-9
Kramer, Gudrun (2008).
A History of Palestine: From the Ottoman Conquest to the Founding of the State of Israel
. Princeton University Press. tr.
376.
ISBN
978-0-691-11897-0
Allan D. Cooper (2009).
The geography of genocide
. University Press of America. tr.
132.
ISBN
978-0-7618-4097-8
. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2012
Carmel, Alex.
The History of Haifa Under Turkish Rule
. Haifa: Pardes, 2002 (
ISBN 965-7171-05-9
), pp. 16–17
Sefer HaCharedim Mitzvat Tshuva Chapter 3. Maimonides established a yearly holiday for himself and his sons, 6
Cheshvan
, commemorating the day he went up to pray on the Temple Mount, and another, 9 Cheshvan, commemorating the day he merited to pray at the Cave of the Patriarchs in
Hebron
Abraham P. Bloch (1987). "Sultan Saladin Opens Jerusalem to Jews".
One a day: an anthology of Jewish historical anniversaries for every day of the year
KTAV Publishing House, Inc.
tr.
277.
ISBN
978-0-88125-108-1
. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2011
The Abuhav Synagogue
, Jewish Virtual Library.
Alex Carmel; Peter Schäfer; Yossi Ben-Artzi (1990).
The Jewish settlement in Palestine, 634–1881
. L. Reichert. tr.
31.
ISBN
978-3-88226-479-1
. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2011
Moshe Lichtman (tháng 9 năm 2006).
Eretz Yisrael in the Parshah: The Centrality of the Land of Israel in the Torah
. Devora Publishing. tr.
302.
ISBN
978-1-932687-70-5
. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2011
M. Sharon (2010). "Al Khalil".
Encyclopedia of Islam, Second Edition
. Koninklijke Brill NV.
International Dictionary of Historic Places: Middle East and Africa
by Trudy Ring, Robert M. Salkin, Sharon La Boda, pp. 336–339
Dan Bahat
(1976).
Twenty centuries of Jewish life in the Holy Land: the forgotten generations
. Israel Economist. tr.
48
. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2011
Fannie Fern Andrews (tháng 2 năm 1976).
The Holy Land under mandate
. Hyperion Press. tr.
145.
ISBN
978-0-88355-304-6
. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2011
"The Covenant of the League of Nations"
Article 22
. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2012
"Mandate for Palestine,"
Encyclopaedia Judaica,
Vol. 11, p. 862, Keter Publishing House, Jerusalem, 1972
Rosenzweig 1997
, tr.
"Zionism, the urge of the Jewish people to return to Palestine, is almost as ancient as the Jewish diaspora itself. Some Talmudic statements... Almost a millennium later, the poet and philosopher Yehuda Halevi... In the 19th century
..."
Geoffrey Wigoder, G.G. (ed.).
"Return to Zion"
The New Encyclopedia of Judaism (via Answers.Com)
. The Jerusalem Publishing House
. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2010
{{
Chú thích tạp chí
}}
author=
có tên chung (
trợ giúp
Gilbert 2005
, tr.
. "Jews sought a new homeland here after their expulsions from Spain (1492)
..."
Eisen, Yosef (2004).
Miraculous journey: a complete history of the Jewish people from creation to the present
. Targum Press. tr.
700
ISBN
1-56871-323-1
Morgenstern, Arie (2006).
Hastening redemption: Messianism and the resettlement of the land of Israel
. USA: Oxford University Press. tr.
304
ISBN
978-0-19-530578-4
"Jewish and Non-Jewish Population of Palestine-Israel (1517–2004)"
. Jewish Virtual Library.
Bản gốc
lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2017
. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2010
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
Barnai, Jacob (1992).
The Jews in Palestine in the Eighteenth Century: Under the Patronage of the Istanbul committee of Officials for Palestine
. University Alabama Press. tr.
320.
ISBN
978-0-8173-0572-7
"Immigration to Israel"
. Jewish Virtual Library
. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2012
The source provides information on the First, Second, Third, Fourth and Fifth Aliyot in their respective articles. The White Paper leading to Aliyah Bet is discussed
"Aliyah During World War II and its Aftermath"
Kornberg 1993
"How did Theodor Herzl, an assimilated German nationalist in the 1880s, suddenly in the 1890s become the founder of Zionism?"
Herzl 1946
, tr.
11
"Chapter One"
The Jewish Agency for Israel1
Bản gốc
lưu trữ ngày 10 tháng 12 năm 2018
. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2015
Stein 2003
, tr.
88
. "As with the First Aliyah, most Second Aliyah migrants were non-Zionist orthodox Jews
..."
Romano 2003
, tr.
30
Macintyre, Donald (ngày 26 tháng 5 năm 2005).
"The birth of modern Israel: A scrap of paper that changed history"
The Independent
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
Yapp, M.E.
(1987).
The Making of the Modern Near East 1792–1923
. Harlow, England: Longman. tr.
290
ISBN
0-582-49380-3
Schechtman, Joseph B. (2007).
"Jewish Legion"
Encyclopaedia Judaica
. Quyển
11. Detroit: Macmillan Reference USA. tr.
304
. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2014
Scharfstein 1996
, tr.
269
. "During the First and Second Aliyot, there were many Arab attacks against Jewish settlements... In 1920,
Hashomer
was disbanded and
Haganah
("The Defense") was established."
"League of Nations: The Mandate for Palestine, ngày 24 tháng 7 năm 1922"
Modern History Sourcebook
. Fordham University. ngày 24 tháng 7 năm 1922.
Bản gốc
lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2011
. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2007
Shaw, J. V. W. (tháng 1 năm 1991) [1946]. "Chapter VI: Population
://www.palestine-studies.org/books.aspx?id=543&href=details".
A Survey of Palestine
. Quyển
I: Prepared in December 1945 and January 1946 for the information of the Anglo-American Committee of Inquiry . Washington, D.C.: Institute for Palestine Studies. tr.
148.
ISBN
978-0-88728-213-3
OCLC
22345421
{{
Chú thích sách
}}
Liên kết ngoài trong
chapter=
trợ giúp
"Report to the League of Nations on Palestine and Transjordan, 1937"
. British Government. 1937.
Bản gốc
lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2013
. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2013
Walter Laqueur (ngày 1 tháng 7 năm 2009).
A History of Zionism: From the French Revolution to the Establishment of the State of Israel
. Knopf Doubleday Publishing Group.
ISBN
9780307530851
. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2015
Hughes, M (2009). "The banality of brutality: British armed forces and the repression of the Arab Revolt in Palestine, 1936–39".
English Historical Review
. Quyển
CXXIV số
507. tr.
314–
354.
doi
10.1093/ehr/cep002
Khalidi, Walid
(1987).
From Haven to Conquest: Readings in Zionism and the Palestine Problem Until 1948
. Institute for Palestine Studies.
ISBN 978-0-88728-155-6
"The Population of Palestine Prior to 1948"
. MidEastWeb
. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012
Fraser 2004
, tr.
27
The Terrorism Ahead: Confronting Transnational Violence in the Twenty-First | By Paul J. Smith | M.E. Sharpe, 10 Sep 2007 | pg 27
Encyclopedia of Terrorism, Harvey W. Kushner, Sage, 2003 p.181
Encyclopædia Britannica
article on the Irgun Zvai Leumi
The British Empire in the Middle East, 1945-1951: Arab Nationalism, the United States, and Postwar Imperialism. William Roger Louis, Oxford University Press, 1986, p. 430
Clarke, Thurston
By Blood and Fire
, G. P. Puttnam's Sons, New York, 1981
Bethell, Nicholas (1979).
The Palestine Triangle
. Andre Deutsch.
"A/RES/106 (S-1)"
General Assembly resolution
. United Nations. ngày 15 tháng 5 năm 1947.
Bản gốc
lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2012
. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2012
"A/364"
Special Committee on Palestine
. United Nations. ngày 3 tháng 9 năm 1947.
Bản gốc
lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2012
. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2012
"Background Paper No. 47 (ST/DPI/SER.A/47)"
. United Nations. ngày 20 tháng 4 năm 1949.
Bản gốc
lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2012
. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
"A/RES/181(II) of ngày 29 tháng 11 năm 1947"
. United Nations. 1947.
Bản gốc
lưu trữ ngày 24 tháng 5 năm 2012
. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2012
Benny Morris (2008).
1948: a history of the first Arab-Israeli war
. Yale University Press. tr.
66, 67, 72
. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2013
p.66, at 1946 "The League demanded independence for Palestine as a "unitary" state, with an Arab majority and minority rights for the Jews."; p.67, at 1947 "The League's Political Committee met in Sofar, Lebanon, on 16–19 September, and urged the Palestine Arabs to fight partition, which it called "aggression," "without mercy." The League promised them, in line with Bludan, assistance "in manpower, money and equipment" should the United Nations endorse partition."; p. 72, at Dec 1947 "The League vowed, in very general language, "to try to stymie the partition plan and prevent the establishment of a Jewish state in Palestine
Bregman 2002
, tr.
40–41
Gelber, Yoav (2006).
Palestine 1948
. Brighton: Sussex Academic Press. tr.
17
ISBN
978-1-902210-67-4
Morris, 2008, p. 77-78
Tal, David (2003).
War in Palestine, 1948: Israeli and Arab Strategy and Diplomacy
. Routledge. tr.
471.
ISBN
978-0-7146-5275-7
Morris, Benny (2008).
1948: A History of the First Arab-Israeli War
. New Haven, Conn.: Yale University Press.
ISBN
0-300-15112-8
"Declaration of Establishment of State of Israel"
. Israel Ministry of Foreign Affairs. ngày 14 tháng 5 năm 1948.
Clifford, Clark, "Counsel to the President: A Memoir", 1991, p. 20.
Jacobs, Frank (ngày 7 tháng 8 năm 2012).
"The Elephant in the Map Room"
Borderlines
. The New York Times
. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2012
Karsh, Efraim (2002).
The Arab–Israeli conflict: The Palestine War 1948
. Osprey Publishing. tr.
50
ISBN
978-1-84176-372-9
Ben-Sasson 1985
, tr.
1058
Morris, 2008, p. 205
Bản mẫu:Title?
Rabinovich, Itamar; Reinharz, Jehuda (2007).
Israel in the Middle East: Documents and Readings on Society, Politics, and Foreign Relations, Pre-1948 to the Present
. Brandeis. tr.
74.
ISBN
978-0-87451-962-4
Benny Morris (ngày 1 tháng 4 năm 2009).
1948: A History of the First Arab-Israeli War
. Yale University Press. tr.
187.
ISBN
978-0-300-15112-1
A week before the armies marched, Azzam told Kirkbride: "It does not matter how many [ Jews] there are. We will sweep them into the sea."... Ahmed Shukeiry, one of Haj Amin al-Husseini's aides (and, later, the founding chairman of the Palestine Liberation Organization), simply described the aim as "the elimination of the Jewish state."...al-Quwwatli told his people: "Our army has entered... we shall win and we shall eradicate Zionism)
Benny Morris (ngày 1 tháng 4 năm 2009).
1948: A History of the First Arab-Israeli War
. Yale University Press. tr.
198.
ISBN
978-0-300-15112-1
the Jews felt that the Arabs aimed to reenact the Holocaust and that they faced certain personal and collective slaughter should they lose
David Tal (ngày 24 tháng 6 năm 2004).
War in Palestine, 1948: Israeli and Arab Strategy and Diplomacy
. Routledge. tr.
469.
ISBN
978-1-135-77513-1
some of the Arab armies invaded Palestine in order to prevent the establishment of a Jewish state, Transjordan...
"PDF copy of Cablegram from the Secretary-General of the League of Arab States to the Secretary-General of the United Nations: S/745: ngày 15 tháng 5 năm 1948"
. Un.org. ngày 9 tháng 9 năm 2002
. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2013
Karsh, Efraim (2002).
The Arab–Israeli conflict: The Palestine War 1948
. Osprey Publishing.
ISBN
978-1-84176-372-9
"United Nations Relief and Works Agency for Palestine Refugees"
. UNRWA.
Morris, Benny
The Birth of the Palestinian Refugee Problem Revisited
. Cambridge University Press. tr.
602.
ISBN
978-0-521-00967-6
Morris, Benny (2004).
The Birth of the Palestinian Refugee Problem Revisited
. Cambridge University Press.
ISBN
978-0521009676
"The 1948 Massacre at Deir Yassin Revisited"
Historian
. JSTOR.
Morris, Benny (2004).
The Birth of the Palestinian Refugee Problem Revisited
. Cambridge University Press.
Aderet, Ofer (ngày 14 tháng 10 năm 2022).
"Researchers Who Uncovered Zionist Forces' Use of Biological Warfare in 1948 Speak Out"
Haaretz
"Two Hundred and Seventh Plenary Meeting"
. The United Nations. ngày 11 tháng 5 năm 1949.
Bản gốc
lưu trữ ngày 12 tháng 9 năm 2007
. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
William Roger Louis (1984).
The British Empire in the Middle East, 1945–1951: Arab Nationalism, the United States, and Postwar Imperialism
. Clarendon Press. tr.
579.
ISBN
978-0-19-822960-5
The transcript makes it clear that British policy acted as a brake on Jordan." "King Abdullah was personally anxious to come to agreement with Israel", Kirkbride stated, and in fact it was our restraining influence which had so far prevented him from doing so." Knox Helm confirmed that the Israelis hoped to have a settlement with Jordan, and that they now genuinely wished to live peacefully within their frontiers, if only for economic reasons
Lustick 1988
, tr.
37–39
"Israel (Labor Zionism)"
Country Studies
. Library of Congress
. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2010
"The Kibbutz & Moshav: History & Overview"
Jewish Virtual Library
. Jewish Virtual Library
. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2014
Anita Shapira (1992).
Land and Power
. Stanford University Press. tr.
416, 419.
"Population, by Religion and Population Group"
(PDF)
. Israel Central Bureau of Statistics. 2006.
Bản gốc
(PDF)
lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2007
. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
Bard, Mitchell (2003).
The Founding of the State of Israel
. Greenhaven Press. tr.
15.
Laskier, Michael "Egyptian Jewry under the Nasser Regime, 1956–70" pages 573–619 from
Middle Eastern Studies
, Volume 31, Issue # 3, July 1995 page 579.
Hakohen, Devorah (2003).
Immigrants in Turmoil: Mass Immigration to Israel and Its Repercussions in the 1950s and After
. Syracuse University Press.
ISBN
978-0-8156-2969-6
; for ma'abarot population, see p. 269.
Shindler 2002
, tr.
49–50
Clive Jones, Emma Murphy,
Israel: Challenges to Identity, Democracy, and the State,
Routledge
2002 p. 37: "Housing units earmarked for the Oriental Jews were often reallocated to European Jewish immigrants; Consigning Oriental Jews to the privations of
ma'aborot
(transit camps) for longer periods."
Segev 2007
, tr.
155–157
Kameel B. Nasr (ngày 1 tháng 12 năm 1996).
Arab and Israeli Terrorism: The Causes and Effects of Political Violence, 1936–1993
. McFarland. tr.
40–.
ISBN
978-0-7864-3105-2
Fedayeen to attack...almost always against civilians
Gilbert 2005
, tr.
58
Isaac Alteras (1993).
Eisenhower and Israel: U.S.-Israeli Relations, 1953–1960
. University Press of Florida. tr.
192–.
ISBN
978-0-8130-1205-6
Dominic Joseph Caraccilo (tháng 1 năm 2011).
Beyond Guns and Steel: A War Termination Strategy
. ABC-CLIO. tr.
113–.
ISBN
978-0-313-39149-1
Alan Dowty (ngày 20 tháng 6 năm 2005).
Israel/Palestine
. Polity. tr.
102–.
ISBN
978-0-7456-3202-5
"The Jewish Virtual Library, The Sinai-Suez Campaign: Background & Overview"
Schoenherr, Steven (ngày 15 tháng 12 năm 2005).
"The Suez Crisis"
. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2013
Gorst, Anthony; Johnman, Lewis (1997).
The Suez Crisis
. Routledge.
ISBN
978-0-415-11449-3
Benny Morris (ngày 25 tháng 5 năm 2011).
Righteous Victims: A History of the Zionist-Arab Conflict, 1881–1998
. Knopf Doubleday Publishing Group. tr.
300, 301.
ISBN
978-0-307-78805-4
"Adolf Eichmann"
. Jewish Virtual Library
. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
Cole 2003
, tr.
27
. "...
the Eichmann trial, which did so much to raise public awareness of the Holocaust
..."
Shlomo Shpiro (2006). "No place to hide: Intelligence and civil liberties in Israel".
Cambridge Review of International Affairs
. Quyển
19 số
44. tr.
629–
648.
doi
10.1080/09557570601003361
"The Politics of Miscalculation in the Middle East", by Richard B. Parker (1993 Indiana University Press) pp. 38
Maoz, Moshe (1995).
Syria and Israel: From War to Peacemaking
. USA: Oxford University Press. tr.
70
ISBN
978-0-19-828018-7
"On This Day 5 Jun"
. BBC. ngày 5 tháng 6 năm 1967
. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2011
Segev 2007
, tr.
178
Segev 2007
, tr.
289
Smith 2006
, tr.
126
. "Nasser, the Egyptian president, decided to mass troops in the Sinai...
casus belli
by Israel."
Bennet, James (ngày 13 tháng 3 năm 2005).
"The Interregnum"
The New York Times Magazine
. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2010
"Israel Ministry of Foreign Affairs
– The Palestinian National Covenant- July 1968"
. Mfa.gov.il
. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2009
Silke, Andrew (2004).
Research on Terrorism: Trends, Achievements and Failures
. Routledge. tr.
149 (256 pages).
ISBN
978-0-7146-8273-0
. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2010
Gilbert, Martin (2002).
The Routledge Atlas of the Arab–Israeli Conflict: The Complete History of the Struggle and the Efforts to Resolve It
. Routledge. tr.
82.
ISBN
978-0-415-28116-4
. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2010
Andrews, Edmund
Kifner, John
(ngày 27 tháng 1 năm 2008).
"George Habash, Palestinian Terrorism Tactician, Dies at 82"
The New York Times
. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2012
"1973: Arab states attack Israeli forces"
On This Day
. The BBC. ngày 6 tháng 10 năm 1973
. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2007
"Agranat Commission"
. Knesset. 2008
. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2010
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
Bregman 2002
, tr.
169–170
"In hindsight we can say that 1977 was a turning point
..."
Bregman 2002
, tr.
171–174
Bregman 2002
, tr.
186–187
Bregman 2002
, tr.
186
Cleveland, William L. (1999).
A history of the modern Middle East
. Westview Press. tr.
356
ISBN
978-0-8133-3489-9
Lustick, Ian (1997).
"Has Israel Annexed East Jerusalem?"
Middle East Policy
. Quyển
V số
1. Washington, D.C.: Wiley-Blackwell. tr.
34–
45.
doi
10.1111/j.1475-4967.1997.tb00247.x
ISSN
1061-1924
OCLC
4651987544
Bản gốc
(PDF)
lưu trữ ngày 20 tháng 11 năm 2009
. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2013
See for example UN General Assembly resolution 63/30, passed 163 for, 6 against
"Resolution adopted by the General Assembly"
. ngày 23 tháng 1 năm 2009.
Bản gốc
lưu trữ ngày 3 tháng 1 năm 2011
. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2016
BBC News.
Regions and territories: The Golan Heights
Bregman 2002
, tr.
199
Friedberg, Rachel M. (tháng 11 năm 2001).
"The Impact of Mass Migration on the Israeli Labor Market"
(PDF)
The Quarterly Journal of Economics
. Quyển
116 số
4. tr.
1373–
1408.
doi
10.1162/003355301753265606
Bản gốc
(PDF)
lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2012
. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2016
Tessler, Mark A. (1994).
A History of the Israeli–Palestinian conflict
. Indiana University Press. tr.
677
ISBN
978-0-253-20873-6
Stone
Zenner 1994
, tr.
246
. "Toward the end of 1991... were the result of internal Palestinian terror."
Haberman, Clyde (ngày 9 tháng 12 năm 1991).
"After 4 Years, Intifada Still Smolders"
The New York Times
. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2008
Mowlana, Gerbner
Schiller 1992
, tr.
111
Bregman 2002
, tr.
236
"From the End of the Cold War to 2001"
Boston College
Bản gốc
lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2013
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
"The Oslo Accords, 1993"
. U.S. Department of State.
Bản gốc
lưu trữ ngày 22 tháng 1 năm 2010
. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2010
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
"Israel-PLO Recognition
– Exchange of Letters between PM Rabin and Chairman Arafat
– Sept 9- 1993"
. Israeli Ministry of Foreign Affairs
. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2010
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
Harkavy
Neuman 2001
, tr.
270
. "Even though Jordan in 1994 became the second country, after Egypt to sign a peace treaty with Israel
..."
"Israel marks Rabin assassination"
BBC News
. ngày 12 tháng 11 năm 2005.
Bregman 2002
, tr.
257
"The Wye River Memorandum"
U.S. Department of State
. ngày 23 tháng 10 năm 1998.
Bản gốc
lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 1999
. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2010
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
Gelvin 2005
, tr.
240
Gross, Tom (ngày 16 tháng 1 năm 2014).
"The big myth: that he caused the Second Intifada"
The Jewish Chronicle
Bản gốc
lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016
. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2016
Hong, Nicole (ngày 23 tháng 2 năm 2015).
"Jury Finds Palestinian Authority, PLO Liable for Terrorist Attacks in Israel a Decade Ago"
The Wall Street Journal
. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2016
Ain, Stewart (ngày 20 tháng 12 năm 2000).
"PA: Intifada Was Planned"
. The Jewish Week.
Bản gốc
lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2007.
Samuels, David (ngày 1 tháng 9 năm 2005).
"In a Ruined Country"
The Atlantic
. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2013
"West Bank barrier route disputed, Israeli missile kills 2"
USA Today
. ngày 29 tháng 7 năm 2004
. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2012
Harel, Amos; Issacharoff, Avi (ngày 1 tháng 10 năm 2010).
"Years of rage"
Haaretz
. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2012
"Security Council Calls for End to Hostilities between Hizbollah, Israel, Unanimously Adopting Resolution 1701 (2006)"
United Nations Security Council Resolution 1701
. ngày 11 tháng 8 năm 2006.
Escalation of hostilities in Lebanon and in Israel since Hizbollah's attack on Israel on ngày 12 tháng 7 năm 2006
Harel, Amos (ngày 13 tháng 7 năm 2006).
"Hezbollah kills 8 soldiers, kidnaps two in offensive on northern border"
Haaretz
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
Koutsoukis, Jason (ngày 5 tháng 1 năm 2009).
"Battleground Gaza: Israeli ground forces invade the strip"
Sydney Morning Herald
. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2009
Ravid, Barak (ngày 18 tháng 1 năm 2009).
"IDF begins Gaza troop withdrawal, hours after ending 3-week offensive"
Haaretz
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
Azoulay, Yuval (ngày 1 tháng 1 năm 2009).
"Two IDF soldiers, civilian lightly hurt as Gaza mortars hit Negev"
Haaretz
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
Lappin, Yaakov; Lazaroff, Tovah (ngày 12 tháng 11 năm 2012).
"Gaza groups pound Israel with over 100 rockets"
The Jerusalem Post
. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2013
Stephanie Nebehay (ngày 20 tháng 11 năm 2012).
"UN rights boss, Red Cross urge Israel, Hamas to spare civilians"
. Reuters.
Bản gốc
lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2013
. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2012
al-Mughrabi, Nidal (ngày 24 tháng 11 năm 2012).
"Hamas leader defiant as Israel eases Gaza curbs"
Reuters
Bản gốc
lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2013
. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2013
"Israeli air strike kills top Hamas commander Jabari"
The Jerusalem Post
. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2012
"Israel and Hamas Trade Attacks as Tension Rises"
The New York Times
. ngày 8 tháng 7 năm 2014.
Cohen, Gili (ngày 9 tháng 1 năm 2012).
"Israel Navy to devote majority of missile boats to secure offshore drilling rafts"
Haaretz
(bằng tiếng Anh).
"Area of Districts, Sub-Districts, Natural Regions and Lakes"
(bằng tiếng Anh). Israel Central Bureau of Statistics. ngày 11 tháng 9 năm 2012
. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2013
"Israel (Geography)"
Country Studies
. Library of Congress. ngày 7 tháng 5 năm 2009
. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2010
"Geographic Regions"
Bản gốc
lưu trữ ngày 4 tháng 1 năm 2008
. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2008
"Bản sao đã lưu trữ"
(bằng tiếng Anh).
Bản gốc
lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2014
. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2016
{{
Chú thích báo
}}
Đã định rõ hơn một tham số trong
ngày lưu trữ=

archive-date=
trợ giúp
Đã định rõ hơn một tham số trong
tiêu đề=

title=
trợ giúp
Đã định rõ hơn một tham số trong
url lưu trữ=

archive-url=
trợ giúp
"After 20 Years": A Taphonomic Re-evaluation of Nahal Hadera V, an Epipalaeolithic Site on the Israeli Coastal Plain"
(PDF)
(bằng tiếng Anh).
"The Living Dead Sea"
. Israel Ministry of Foreign Affairs. ngày 1 tháng 4 năm 1999.
ISBN
0-8264-0406-5
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
Makhteshim Country
. UNESCO.
ISBN
954-642-135-9
Jacobs 1998
, tr.
284
. "The extraordinary Makhtesh Ramon
– the largest natural crater in the world
..."
Bản lưu trữ
tại
Wayback Machine
"Makhtesh Ramon"
. Jewish Virtual Library
. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2010
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
Rinat, Zafrir (ngày 29 tháng 5 năm 2008).
"More endangered than rain forests?"
Haaretz
(bằng tiếng Anh). Tel Aviv
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
Ferry M.; Meghraoui M.; Karaki A.A.; Al-Taj M.; Amoush H.; Al-Dhaisat S.; Barjous M. (2008).
"A 48-kyr-long slip rate history for the Jordan Valley segment of the Dead Sea Fault"
Earth and Planetary Science Letters
. Quyển
260 số
3–
4. tr.
394–
406.
Bibcode
2007E
PSL.260..394F
doi
10.1016/j.epsl.2007.05.049
American Friends of the Tel Aviv University,
Earthquake Experts at Tel Aviv University Turn to History for Guidance
(ngày 4 tháng 10 năm 2007). Quote: The major ones were recorded along the Jordan Valley in the years 31 B.C.E., 363 C.E., 749 C.E., and 1033 C.E. "So roughly, we are talking about an interval of every 400 years. If we follow the patterns of nature, a major quake should be expected any time because almost a whole millennium has passed since the last strong earthquake of 1033." (Tel Aviv University Associate Professor Dr. Shmuel (Shmulik) Marco).
Lưu trữ
ngày 6 tháng 10 năm 2016 tại
Wayback Machine
Zafrir Renat,
Israel Is Due, and Ill Prepared, for Major Earthquake
, Haaretz, 15 January 2010. "On average, a destructive earthquake takes place in Israel once every 80 years, causing serious casualties and damage."
Watzman, Haim (ngày 8 tháng 2 năm 1997).
"Left for dead"
New Scientist
(bằng tiếng Anh). Luân Đôn
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
"WMO Region 6: Highest Temperature"
(bằng tiếng Anh). World Meteorological Organization.
Bản gốc
lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2015
. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2009
Goldreich 2003
, tr.
85
"Bản sao đã lưu trữ"
(bằng tiếng Anh).
The Weather Channel
Bản gốc
lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2013
. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2016
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
Đã định rõ hơn một tham số trong
ngày lưu trữ=

archive-date=
trợ giúp
Đã định rõ hơn một tham số trong
ngày truy cập=

access-date=
trợ giúp
Đã định rõ hơn một tham số trong
tiêu đề=

title=
trợ giúp
Đã định rõ hơn một tham số trong
url lưu trữ=

archive-url=
trợ giúp
"Bản sao đã lưu trữ"
(bằng tiếng Anh).
The Weather Channel
Bản gốc
lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2013
. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2016
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
Đã định rõ hơn một tham số trong
ngày lưu trữ=

archive-date=
trợ giúp
Đã định rõ hơn một tham số trong
ngày truy cập=

access-date=
trợ giúp
Đã định rõ hơn một tham số trong
tiêu đề=

title=
trợ giúp
Đã định rõ hơn một tham số trong
url lưu trữ=

archive-url=
trợ giúp
Sitton, Dov (ngày 20 tháng 9 năm 2003).
"Development of Limited Water Resources- Historical and Technological Aspects"
(bằng tiếng Anh). Israeli Ministry of Foreign Affairs
. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
"Flora of Israel Online"
Flora.huji.ac.il
(bằng tiếng Anh)
. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2010
"National Parks and Nature Reserves, Israel"
(bằng tiếng Anh). Israel Ministry of Tourism.
Bản gốc
lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2012
. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2012
"Field Listing
— Executive Branch"
The World Factbook
. Central Intelligence Agency. ngày 19 tháng 6 năm 2007.
Bản gốc
lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2008
. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2007
In 1996, direct elections for the prime minister were inaugurated, but the system was declared unsatisfactory and the old one reinstated. See
"Israel's election process explained"
. BBC News. ngày 23 tháng 1 năm 2003
. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2010
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
"The Electoral System in Israel"
. The Knesset
. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
Mazie 2006
, tr.
34
Charbit, Denis (2014). "Israel's Self-Restrained Secularism from the 1947 Status Quo Letter to the Present". Trong Berlinerblau, Jacques; Fainberg, Sarah; Nou, Aurora (biên tập).
Secularism on the Edge: Rethinking Church-State Relations in the United States, France, and Israel
. New York: Palgrave Macmillan. tr.
167–
169.
ISBN
978-1-137-38115-6
Sharot, Stephen (2007). "Judaism in Israel: Public Religion, Neo-Traditionalism, Messianism, and Ethno-Religious Conflict". Trong Beckford, James A.; Demerath, Jay (biên tập).
The SAGE Handbook of the Sociology of Religion
. London and Thousand Oaks, California: Sage Publications. tr.
671–
672.
ISBN
978-1-4129-1195-5
Jacoby, Tami Amanda (2005).
Women in Zones of Conflict: Power and Resistance in Israel
. Montreal, Quebec and Kingston, Ontario: McGill-Queen's University Press. tr.
53–
54.
ISBN
9780773529939
Englard, Izhak (Winter 1987).
"Law and Religion in Israel"
The American Journal of Comparative Law
. Quyển
35 số
1. American Society of Comparative Law. tr.
185–
208.
doi
10.2307/840166
JSTOR
840166
The great political and ideological importance of religion in the state of Israel manifests itself in the manifold legal provisions concerned with religions phenomenon.
... It is not a system of separation between state and religion as practiced in the U.S.A and several other countries of the world. In Israel a number of religious bodies exercise official functions; the religious law is applied in limited areas
"The Judiciary: The Court System"
. Israel Ministry of Foreign Affairs. ngày 1 tháng 8 năm 2005
. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
"Israel's high court unique in region"
Boston Herald
. ngày 9 tháng 9 năm 2007
. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2013
"Israel and the International Criminal Court"
. Office of the Legal Adviser to the Israeli Ministry of Foreign Affairs. ngày 30 tháng 6 năm 2002.
Bản gốc
lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2007
. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
"The State
— Judiciary
— The Court System"
. Israel Ministry of Foreign Affairs. ngày 1 tháng 10 năm 2006
. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
"הליך מינוי השופטים בישראל: עובד- אל תיגעו!"
Israel Democracy Institute
Bản gốc
lưu trữ ngày 9 tháng 9 năm 2014
. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2015
Suzi Navot (2007).
Constitutional Law of Israel
. Kluwer Law International. tr.
146.
ISBN
9789041126511
"Localities and Population, by Population Group, District, Sub-District and Natural Region"
. Israel Central Bureau of Statistics. ngày 6 tháng 9 năm 2017
. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2017
"Population of Jerusalem, by Age, Religion and Geographical Spreading, 2014"
(PDF)
. The Jerusalem Institute for Israel Studies.
Bản gốc
(PDF)
lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2016
. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2016
"Introduction to the Tables: Geophysical Characteristics"
(doc)
. Central Bureau of Statistics
. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
"Localities, Population, and Density"
(PDF)
. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2010
"Population of localities numbering above 2,000 residents and other rural population"
(PDF)
. Central Bureau of Statistics. ngày 30 tháng 9 năm 2009
. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2010
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
Roberts 1990
, tr.
60
Although Eastc Jerusalem and the Golan Heights have been brought directly under Israeli law, by acts that amount to annexation, both of these areas continue to be viewed by the international community as occupied, and their status as regards the applicability of international rules is in most respects identical to that of the West Bank and Gaza.
"Israel's Diplomatic Missions Abroad: Status of relations"
(bằng tiếng Anh). Israel Ministry of Foreign Affairs
. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2016
Mohammed Mostafa Kamal (ngày 21 tháng 7 năm 2012).
"Why Doesn't the Muslim World Recognize Israel?"
The Jerusalem Post
(bằng tiếng Anh)
. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2015
"Massive Israel protests hit universities" (Egyptian Mail, 16 March 2010) "According to most Egyptians, almost 31 years after a peace treaty was signed between Egypt and Israel, having normal ties between the two countries is still a potent accusation and Israel is largely considered to be an enemy country"
"Initial Periodic Report of the State of Israel Concerning the Implementation of the Convention of the Rights of the Child (CRC)"
(PDF)
. Israel Ministry of Justice. tháng 2 năm 2001. tr.
147 (173 using pdf numbering).
Bản gốc
(PDF)
lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2007
. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
הוראות הדין הישראלי
(bằng tiếng Do Thái). Israeli Ministry of Foreign Affairs. 2004.
Bản gốc
lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2007
. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
Abadi 2004
, tr.
37–39, 47
Abadi 2004
"Qatar, Mauritania cut Israel ties"
Al Jazeera English
. ngày 17 tháng 1 năm 2009
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
Abn, Abi (ngày 14 tháng 1 năm 2009).
"Bản sao đã lưu trữ"
(bằng tiếng Tây Ban Nha). YVKE Mundial Radio.
Bản gốc
lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2011
. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
Đã định rõ hơn một tham số trong
ngày lưu trữ=

archive-date=
trợ giúp
Đã định rõ hơn một tham số trong
ngày truy cập=

access-date=
trợ giúp
Đã định rõ hơn một tham số trong
tiêu đề=

title=
trợ giúp
Đã định rõ hơn một tham số trong
url lưu trữ=

archive-url=
trợ giúp
"The Recognition of Israel".
JSTOR
2193961
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
"U.S. Relations With Israel Bureau of Near Eastern Affairs Fact Sheet ngày 10 tháng 3 năm 2014"
U.S. Department of State
. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2014
"Bản sao đã lưu trữ"
(PDF)
. Defense Technical Information Center.
Bản gốc
(PDF)
lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2011
. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
Đã định rõ hơn một tham số trong
ngày truy cập=

access-date=
trợ giúp
Đã định rõ hơn một tham số trong
tiêu đề=

title=
trợ giúp
"U.S. Overseas Loans and Grants"
(PDF)
(bằng tiếng Anh).
Bản gốc
(PDF)
lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2024
. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016
"U.S. Government Foreign Grants and Credits by Type and Country: 2000 to 2010"
(PDF)
(bằng tiếng Anh).
Lưu trữ
(PDF)
bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2011
. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016
"Foreign Aid"
Lưu trữ
bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2007
. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016
"The bilateral relationship"
UK in Israel
(bằng tiếng Anh). Foreign and Commonwealth Office.
Bản gốc
lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2013
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
"Congressional Research Service: Germany's Relations with Israel: Background and Implications for German Middle East Policy, Jan 19, 2007. (page CRS-2)"
(PDF)
(bằng tiếng Anh)
. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2010
Eric Maurice (ngày 5 tháng 3 năm 2015).
"EU to Revise Relations with Turbulent Neighbourhood"
(bằng tiếng Anh).
EUobserver
. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2015
Abadi 2004
, tr.
. "However, it was not until 1991 that the two countries established full diplomatic relations."
Abadi 2004
, tr.
4–6
Colum Lynch (ngày 30 tháng 5 năm 2010).
"Turkey urges U.N. Security Council to condemn Israeli attack on aid flotilla"
Washington Post
(bằng tiếng Anh)
. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2010
"Israel Navy commandos: Gaza flotilla activists tried to lynch us"
Haaretz
(bằng tiếng Anh). ngày 31 tháng 5 năm 2010
. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2012
"Israeli Officials Claim Aid Flotilla Had Ties to Al Qaeda, PM Gives Military 'Full Support'
. Fox News. AP. ngày 7 tháng 4 năm 2010
. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2010
Lavie, Mark; Laub, Karin; Hacaoglu, Selcan (ngày 2 tháng 6 năm 2010).
"Israel tries to limit diplomatic damage from raid"
The Washington Times
(bằng tiếng Anh). Jerusalem. Associated Press
. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2012
Pfeffer, Anshel (ngày 6 tháng 6 năm 2010).
"IDF: Five Gaza flotilla activists linked to Hamas, Al-Qaida"
Haaretz
(bằng tiếng Anh)
. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2012
"Israel woos Greece after rift with Turkey"
(bằng tiếng Anh). BBC News. ngày 16 tháng 10 năm 2010.
"Turkey, Greece discuss exploration off Cyprus"
Haaretz
(bằng tiếng Anh). Associated Press. ngày 26 tháng 9 năm 2011
. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2012
"The Cyprus connection"
The Jerusalem Post
(bằng tiếng Anh)
. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2012
"Netanyahu embarks on historic visit to Cyprus"
(bằng tiếng Anh). Ynet
. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2012
"Netanyahu headed to Cyprus to boost cooperation on security, offshore drilling"
Haaretz
(bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 1 năm 2012.
Kumar, Dinesh.
"India and Israel: Dawn of a New Era"
(PDF)
(bằng tiếng Anh). Jerusalem Institute for Western Defense.
Bản gốc
(PDF)
lưu trữ ngày 12 tháng 5 năm 2012
. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012
Eichner, Itamar (ngày 4 tháng 3 năm 2009).
"From India with love"
Ynetnews
(bằng tiếng Anh)
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
"Nitin Gadkari to visit Israel tomorrow"
World Snap
(bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 12 năm 2010
. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2012
"Bản sao đã lưu trữ"
The Times of India
(bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 1 năm 2010.
Bản gốc
lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2012
. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016
{{
Chú thích báo
}}
Đã định rõ hơn một tham số trong
tiêu đề=

title=
trợ giúp
"Iran and Israel in Africa: A search for allies in a hostile world"
The Economist
(bằng tiếng Anh). ngày 4 tháng 2 năm 2010
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
"Bilateral Relations: Relations Overview – Israeli Embassy in Hanoi"
. Hanoi.mfa.gov.il. ngày 26 tháng 3 năm 2012
. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2013
"History: 1948"
. Israel Defense Forces. 2007.
Bản gốc
lưu trữ ngày 12 tháng 4 năm 2008
. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
Henderson 2003
, tr.
97
"The State: Israel Defense Forces (IDF)"
. Israel Ministry of Foreign Affairs. ngày 13 tháng 3 năm 2009
. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
"Israel Defense Forces"
. GlobalSecurity.org
. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2007
"The Israel Defense Forces"
. Israel Ministry of Foreign Affairs
. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2006
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
Stendel 1997
, tr.
191–192
Shtrasler, Nehemia (ngày 16 tháng 5 năm 2007).
"Cool law, for wrong population"
Haaretz
. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012
"Sherut Leumi (National Service)"
. Nefesh B'Nefesh
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
"Israel"
(PDF)
Middle East Military Balance
. Tel Aviv: Institute for National Security Studies. 2012.
Bản gốc
(PDF)
lưu trữ 6 tháng 6 2013
. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2013
{{
Chú thích web
}}
Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:
archive-date=
trợ giúp
Katz, Yaakov (ngày 30 tháng 3 năm 2007).
'Arrow can fully protect against Iran'
The Jerusalem Post
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
Israeli Mirage III and Nesher Aces
, By Shlomo Aloni, (Osprey 2004), page 60
Spike Anti-Tank Missile, Israel
army-technology.com
Robert Johnson (ngày 19 tháng 11 năm 2012).
"How Israel Developed Such A Shockingly Effective Rocket Defense System"
Business Insider
. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2012
Sarah Tory (ngày 19 tháng 11 năm 2012).
"A Missile-Defense System That Actually Works?"
Slate
. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2012
Zorn, E. L. (ngày 8 tháng 5 năm 2007).
"Israel's Quest for Satellite Intelligence"
. Central Intelligence Agency.
Bản gốc
lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2016
. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012
Katz, Yaakov (ngày 11 tháng 6 năm 2007).
"Analysis: Eyes in the sky"
The Jerusalem Post
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
ElBaradei, Mohamed
(ngày 27 tháng 7 năm 2004).
"Transcript of the Director General's Interview with Al-Ahram News"
. International Atomic Energy Agency.
Bản gốc
lưu trữ 18 tháng 4 2012
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
{{
Chú thích web
}}
Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:
archive-date=
trợ giúp
"Proliferation of Weapons of Mass Destruction: Assessing the Risks"
(PDF)
. Office of Technology Assessment. tháng 8 năm 1993. tr.
65, 84.
Bản gốc
(PDF)
lưu trữ ngày 28 tháng 5 năm 2012
. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2012
"Background Information"
2005 Review Conference of the Parties to the Treaty on the Non-Proliferation of Nuclear Weapons (NPT)
. United Nations. ngày 27 tháng 5 năm 2005
. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2012
Ziv, Guy, "To Disclose or Not to Disclose: The Impact of Nuclear Ambiguity on Israeli Security," Israel Studies Forum, Vol. 22, No. 2 (Winter 2007): 76–94
"Popeye Turbo"
. Federation of American Scientists
. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2011
"Glossary"
. Israel Homeowner.
Bản gốc
lưu trữ ngày 17 tháng 5 năm 2012
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
Defence Expenditure in Israel, 1950–2015
(PDF)
(Báo cáo). Israel Central Bureau of Statistics. ngày 29 tháng 5 năm 2017.
Bản gốc
(PDF)
lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2017
. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2017
"Military expenditure (% of GDP)"
World Development Indicators
. World Bank
. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2017
Trends in world military expenditure, 2015
(PDF)
(Báo cáo). Stockholm International Peace Research Institute. ngày 5 tháng 4 năm 2016
. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2017
Sharp, Jeremy M. (ngày 22 tháng 12 năm 2016).
U.S. Foreign Aid to Israel
(PDF)
(Báo cáo). Congressional Research Service. tr.
36.
Bản gốc
(PDF)
lưu trữ 31 tháng 7 2015
. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2017
Lake, Eli (ngày 15 tháng 9 năm 2016).
"The U.S.-Israel Memorandum of Misunderstanding"
. Bloomberg
. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2017
"TOP LIST TIV TABLES"
. Stockholm International Peace Research Institute.
Bản gốc
lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2013
. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2017
Israel reveals more than $7 billion in arms sales, but few names
By Gili Cohen | 9 January 2014, Haaretz
"Global Peace Index 2017"
. Institute for Economics and Peace. 2017
. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2017
Chua, Amy (2003).
World On Fire
. Knopf Doubleday Publishing. tr.
219
–220.
ISBN
978-0385721868
"Northern and Western Asia"
David Adler (ngày 10 tháng 3 năm 2014).
"Ambitious Israeli students look to top institutions abroad"
. ICEF
. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2015
"Israel's accession to the OECD"
(bằng tiếng Anh). Organisation for Economic Co-operation and Development
. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2012
"List of OECD Member countries
— Ratification of the Convention on the OECD"
. Organisation for Economic Co-operation and Development
. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2012
Schwab, Klaus (2016).
The Global Competitiveness Report 2016–2017
(PDF)
(Báo cáo). World Economic Forum
. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2017
"Doing Business in Israel"
. World Bank
. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2017
Bounfour, Ahmed; Edvinsson, Leif (2005).
Intellectual Capital for Communities: Nations, Regions, and Cities
. Butterworth-Heinemann. tr.
47
(368 pages).
ISBN
0-7506-7773-2
Richard Behar (ngày 11 tháng 5 năm 2016).
"Inside Israel's Secret Startup Machine"
. Forbes
. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2016
"The 2016 IMD World Competitiveness Scoreboard"
(PDF)
. International Institute for Management Development. 2016
. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2017
"Israel"
Human Capital Report
. World Economic Forum. 2016
. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2017
Parry, Tom (ngày 15 tháng 8 năm 2007).
"Looking to the sun"
Canadian Broadcasting Corporation
Bản gốc
lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2007
. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2016
Gradstein, Linda
(ngày 22 tháng 10 năm 2007).
"Israel Pushes Solar Energy Technology"
NPR
Ginsburg, Mitch (ngày 28 tháng 5 năm 2007).
"A Hotter Holy Land"
. The Jerusalem Report.
Bản gốc
lưu trữ ngày 4 tháng 5 năm 2012
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
"Israel keen on IT tie-ups"
Business Line
. Chennai, India. ngày 10 tháng 1 năm 2001.
Bản gốc
lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2013
. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012
"Israel's technology industry: Punching above its weight"
The Economist
. ngày 10 tháng 11 năm 2005
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
"OECD Factbook 2010: Economic, Environmental and Social Statistics"
. Oecd-ilibrary.org.
Bản gốc
lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2011
. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2011
Krawitz, Avi (ngày 27 tháng 2 năm 2007).
"Intel to expand Jerusalem R&D"
The Jerusalem Post
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
"Microsoft Israel R&D center: Leadership"
. Microsoft.
Bản gốc
lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2012
. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012
Avi returned to Israel in 1991, and established the first Microsoft R&D Center outside the US
...
"Berkshire Announces Acquisition"
New York Times
. ngày 6 tháng 5 năm 2006
. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2010
"Israel's International Investment Position (IIP), December 2015"
(Thông cáo báo chí). Bank of Israel. ngày 13 tháng 3 năm 2016
. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2016
Koren, Orah (ngày 26 tháng 6 năm 2012).
"Instead of 4 work days: 6 optional days to be considered half day-outs"
The Marker
. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2012
(in Hebrew)
"Iowa State, Ames Laboratory, Technion scientist wins Nobel Prize in Chemistry"
Iowa State University
. ngày 5 tháng 10 năm 2011
. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2012
Fiske, Gavriel (ngày 9 tháng 10 năm 2013).
"Tiny Israel a Nobel heavyweight, especially in chemistry"
. Timesofisrael.com
. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2013
"The Bloomberg Innovation Index"
Bloomberg
David Shamah (ngày 4 tháng 2 năm 2015).
"Bloomberg: Israel Is World's 5th Most Innovative Country, Ahead Of US, UK"
. No Camels
. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2016
"Invest in Israel – Where Breakthroughs Happen"
(PDF)
Investment Promotion Center
. Industry, Trade and Labor Ministry. ngày 4 tháng 12 năm 2011. tr.
17.
Bản gốc
(PDF)
lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016
. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2012
Shteinbuk, Eduard (ngày 22 tháng 7 năm 2011).
"R&D and Innovation as a Growth Engine"
(PDF)
. National Research University – Higher School of Economics.
Bản gốc
(PDF)
lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2019
. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2013
Israel_cover+text.qxd
Investing in Israel
"Academic Ranking of World Universities"
. Academic Ranking of World Universities. 2011
. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012
Heylin, Michael (ngày 27 tháng 11 năm 2006).
"Globalization of Science Rolls On"
(PDF)
Chemical & Engineering News
. American Chemical Society. tr.
29–
31
. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2013
Gordon, Evelyn (ngày 24 tháng 8 năm 2006).
"Kicking the global oil habit"
The Jerusalem Post
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
Yarden Skop.
"Israel's scientific fall from grace: Study shows drastic decline in publications per capita"
. Haaretz.
Stafford, Ned (ngày 21 tháng 3 năm 2006).
"Stem cell density highest in Israel"
The Scientist
. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2012
"Futron Releases 2012 Space Competitiveness Index"
Bản gốc
lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2013
. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2013
"Space launch systems – Shavit"
. Deagel
. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2013
O'Sullivan, Arieh (ngày 9 tháng 7 năm 2012).
"Israel's domestic satellite industry saved"
The Jerusalem Post
. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2012
The Amos 6 will be IAI's 14th satellite
Tran, Mark (ngày 21 tháng 1 năm 2008).
"Israel launches new satellite to spy on Iran"
The Guardian
. Luân Đôn
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
e-Teacher (ngày 9 tháng 2 năm 2010).
"Learning Hebrew Online – Colonel Ilan Ramon"
The Jerusalem Post
. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2015
"What You Israelis Have Done With Water Tech is Simply Amazing"
. Arutz Sheva
. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2011
"Ashkelon, Israel"
. water-technology.net.
Bản gốc
lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2011
. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2016
Federman, Josef (ngày 30 tháng 5 năm 2014).
"Israel solves water woes with desalination"
. Associated Press
. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2014
Kershner, Isabel (ngày 29 tháng 5 năm 2015).
"Aided by the Sea, Israel Overcomes an Old Foe: Drought"
The New York Times
ISSN
0362-4331
. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015
Rabinovitch, Ari (ngày 6 tháng 12 năm 2011).
"Desalination plant could make Israel water exporter"
Reuters
. Jerusalem.
Bản gốc
lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2015
. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2016
Lettice, John (ngày 25 tháng 1 năm 2008).
"Giant solar plants in Negev could power Israel's future"
The Register
Sandler, Neal (ngày 26 tháng 3 năm 2008).
"At the Zenith of Solar Energy"
Bloomberg Businessweek
. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2012
Grossman, Gershon; Ayalon, Ofira; Baron, Yifaat; Kauffman, Debby.
"Solar energy for the production of heat Summary and recommendations of the 4th assembly of the energy forum at SNI"
. Samuel Neaman Institute for Advanced Studies in Science and Technology.
Bản gốc
lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2013
. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2012
Del Chiaro, Bernadette; Telleen-Lawton, Timothy.
"Solar Water Heating: How California Can Reduce Its Dependence on Natural Gas"
(PDF)
. Environment California
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
Berner, Joachim (tháng 1 năm 2008).
"Solar, what else?!"
(PDF)
Sun & Wind Energy
. Israel Special. tr.
88.
Bản gốc
(PDF)
lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2011
. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2010
"Will Israel's Electric Cars Change the World?"
Time
. ngày 26 tháng 4 năm 2011.
Bản gốc
lưu trữ 15 tháng 4 2012
. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2012
{{
Chú thích báo
}}
Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:
archive-date=
trợ giúp
"Electric cars are all the rage in Israel"
FT
. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2012
"Israel to keep electric car recharging fees low"
. Haaretz
. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2012
"Baby you can drive my electric car"
. Jpost
. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2012
"Electric Car Company Folds After Taking $850 Million From GE And Others"
Business Insider
. ngày 26 tháng 5 năm 2013.
"Roads, by Length and Area"
. Israel Central Bureau of Statistics. ngày 1 tháng 9 năm 2016
. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2017
"3.09
Million Motor Vehicles in Israel in 2015"
. Israel Central Bureau of Statistics. ngày 30 tháng 3 năm 2016
. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2017
"Bus Services on Scheduled Routes"
(PDF)
. Israeli Central Bureau of Statistics. 2009
. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2010
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
"Railway Services"
. Israel Central Bureau of Statistics. ngày 1 tháng 9 năm 2016
. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2017
"Transportation in Israel"
. Jewish Virtual Library. ngày 1 tháng 11 năm 2001.
ISBN
0-08-043448-7
Bản gốc
lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2008
. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2010
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
"Statistics"
. Israel Airports Authority
. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2017
Burstein, Nathan (ngày 14 tháng 8 năm 2007).
"Tourist visits above pre-war level"
The Jerusalem Post
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
Yifa Yaakov (ngày 10 tháng 1 năm 2014).
"2013 'record year' for tourism, government says"
Times of Israel
. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2014
Ziv Reinstein (ngày 10 tháng 1 năm 2014).
"2013: Record year for incoming tourism"
Ynetnews
. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2014
"Interesting Facts About Israel"
. Jewish Federation of the North Shore
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
"Thống kê dân số Israel cuối năm 2022"
. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2017
"Latest Population Statistics for Israel"
Jewish Virtual Library
. American–Israeli Cooperative Enterprise. tháng 1 năm 2016.
Bản gốc
lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2016
. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2016
"Monthly Bulletin of Statistics"
. Israel Central Bureau of Statistics
. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2017
"ISRAEL: Crackdown on illegal migrants and visa violators"
IRIN
(bằng tiếng Anh). ngày 14 tháng 7 năm 2009.
Adriana Kemp, "Labour migration and racialisation: labour market mechanisms and labour migration control policies in Israel",
Social Identities
10:2, 267–292, 2004
"Bản sao đã lưu trữ"
(bằng tiếng Anh). Reuters. ngày 11 tháng 6 năm 2012.
Bản gốc
lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2013
. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2016
{{
Chú thích báo
}}
Đã định rõ hơn một tham số trong
tiêu đề=

title=
trợ giúp
"THE LAND: Urban Life"
(bằng tiếng Anh). Israel Ministry of Foreign Affairs.
Herman, Pini (ngày 1 tháng 9 năm 1983). "The Myth of the Israeli Expatriate".
Moment Magazine
. Quyển
8 số
8. tr.
62–
63.
Gould, Eric D.; Moav, Omer (2007).
"Israel's Brain Drain"
Israel Economic Review
. Quyển
5 số
1. Bank of Israel. tr.
1–
22
. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2013
Rettig Gur, Haviv (ngày 6 tháng 4 năm 2008).
"Officials to US to bring Israelis home"
The Jerusalem Post
(bằng tiếng Anh)
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
"Bản sao đã lưu trữ"
The Jerusalem Post
(bằng tiếng Anh).
Bản gốc
lưu trữ ngày 28 tháng 5 năm 2011
. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2016
{{
Chú thích báo
}}
Đã định rõ hơn một tham số trong
tiêu đề=

title=
trợ giúp
"Bản sao đã lưu trữ"
Settlement Information
(bằng tiếng Anh).
Foundation for Middle East Peace
Bản gốc
lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2013
. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2016
{{
Chú thích tạp chí
}}
Đã định rõ hơn một tham số trong
ngày lưu trữ=

archive-date=
trợ giúp
Đã định rõ hơn một tham số trong
ngày truy cập=

access-date=
trợ giúp
Đã định rõ hơn một tham số trong
tiêu đề=

title=
trợ giúp
Đã định rõ hơn một tham số trong
url lưu trữ=

archive-url=
trợ giúp
"The Law of Return"
. Knesset
. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
DellaPergola, Sergio (2011).
"Jewish Demographic Policies"
(PDF)
. The Jewish People Policy Institute.
"Israel (people)"
. Encyclopedia.com. 2007.
Yoram Ettinger (ngày 5 tháng 4 năm 2013).
"Defying demographic projections"
Israel Hayom
(bằng tiếng Anh)
. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2013
"Jews, by Continent of Origin, Continent of Birth & Period of Immigration"
. Israel Central Bureau of Statistics. ngày 6 tháng 9 năm 2017
. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2017
"From Sephardi to Mizrahi and Back Again: Changing Meanings of "Sephardi" in Its Social Environments"
"The myth of the Mizrahim"
The Guardian
(bằng tiếng Anh). Luân Đôn. ngày 3 tháng 4 năm 2009.
Shields, Jacqueline.
"Jewish Refugees from Arab Countries"
(bằng tiếng Anh). Jewish Virtual Library
. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2012
"Missing Mizrahim"
(bằng tiếng Anh).
Okun, Barbara S.; Khait-Marelly, Orna (2006).
"Socioeconomic Status and Demographic Behavior of Adult Multiethnics: Jews in Israel"
(PDF)
(bằng tiếng Anh). Hebrew University of Jerusalem.
Bản gốc
(PDF)
lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2013
. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2013
"Population and Density per Sq. Km. in Localities Numbering 5,000 Residents and More on 31.12.2015"
. Israel Central Bureau of Statistics. 2016
. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2016
Israel Central Bureau of Statistics
The Ethiopian Community in Israel
"Bản sao đã lưu trữ"
(bằng tiếng Anh). Reuters. ngày 16 tháng 7 năm 2009.
Bản gốc
lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 2013
. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2016
{{
Chú thích báo
}}
Đã định rõ hơn một tham số trong
tiêu đề=

title=
trợ giúp
Meyer, Bill (ngày 18 tháng 8 năm 2008).
"Israel's welcome for Ethiopian Jews wears thin"
The Plain Dealer
(bằng tiếng Anh)
. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2012
"Study: Soviet immigrants outperform Israeli students"
Haaretz
(bằng tiếng Anh). ngày 10 tháng 2 năm 2008.
"French radio station RFI makes aliyah"
Ynetnews
(bằng tiếng Anh). ngày 5 tháng 12 năm 2011.
Spolsky, Bernard (1999). Soạn tại Washington, D.C..
Round Table on Language and Linguistics
. Georgetown University Press. tr.
169–
70.
ISBN
0-87840-132-6
In 1948, the newly independent state of Israel took over the old British regulations that had set English, Arabic, and Hebrew as official languages for Mandatory Palestine but, as mentioned, dropped English from the list. In spite of this, official language use has maintained a de facto role for English, after Hebrew but before Arabic.
{{
Chú thích sách
}}
: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (
liên kết
Bat-Zeev Shyldkrot, Hava (2004). "Part I: Language and Discourse". Trong Diskin Ravid, Dorit; Bat-Zeev Shyldkrot, Hava (biên tập).
Perspectives on Language and Development: Essays in Honor of Ruth A. Berman
. Kluwer Academic Publishers. tr.
90.
ISBN
1-4020-7911-7
English is not considered official but it plays a dominant role in the educational and public life of Israeli society.... It is the language most widely used in commerce, business, formal papers, academia, and public interactions, public signs, road directions, names of buildings, etc. English behaves 'as if' it were the second and official language in Israel.
{{
Chú thích sách
}}
: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (
liên kết
Shohamy, Elana (2006).
Language Policy: Hidden Agendas and New Approaches
. Routledge. tr.
72–
73.
ISBN
0-415-32864-0
In terms of English, there is no connection between the declared policies and statements and de facto practices. While English is not declared anywhere as an official language, the reality is that it has a very high and unique status in Israel. It is the main language of the academy, commerce, business, and the public space.
{{
Chú thích sách
}}
: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (
liên kết
"English programs at Israeli universities and colleges"
(bằng tiếng Anh). Israel Ministry of Foreign Affairs.
"Statistical Abstract of Israel 2016"
Starr, Kelsey Jo; Masci, David (ngày 8 tháng 3 năm 2016).
"In Israel, Jews are united by homeland but divided into very different groups"
. Pew Research Center
. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2017
Ilan, Shahar (ngày 24 tháng 11 năm 2009).
"At the edge of the abyss"
Haaretz
(bằng tiếng Anh).
Bassok, Moti (ngày 25 tháng 12 năm 2006).
"Israel's Christian population numbers 148,000 as of Christmas Eve"
Haaretz
(bằng tiếng Anh)
. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2012
"National Population Estimates"
(PDF)
. Central Bureau of Statistics. tr.
27
. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
"Israel's disputatious Avigdor Lieberman: Can the coalition hold together?"
The Economist
(bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 3 năm 2010
. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2012
Levine, Lee I. (1999).
Jerusalem: its sanctity and centrality to Judaism, Christianity, and Islam
. Continuum International Publishing Group. tr.
516.
ISBN
978-0-8264-1024-5
{{
Chú thích sách
}}
: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (
liên kết
Hebrew Phrasebook
. Lonely Planet Publications. ngày 1 tháng 11 năm 1999. tr.
156.
ISBN
0-86442-528-7
{{
Chú thích sách
}}
: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (
liên kết
"The Bahá'í World Centre: Focal Point for a Global Community"
. The Bahá'í International Community.
Bản gốc
lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2007
. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
"Teaching the Faith in Israel"
(bằng tiếng Anh). Bahá'í Library Online. ngày 23 tháng 6 năm 1995
. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
"Education in Ancient Israel"
. American Bible Society
. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2015
Moaz, Asher (tháng 7 năm 2007). "Religious Education in Israel".
Tel Aviv University Law Faculty Papers
Education at a Glance: Israel
(Báo cáo). Organisation for Economic Co-operation and Development. ngày 15 tháng 9 năm 2016.
Bản gốc
lưu trữ ngày 10 tháng 11 năm 2017
. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2017
Andreas Schleicher (2013).
"ISRAEL – Education at a Glance 2013"
(PDF)
(bằng tiếng Anh). OECD
. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2015
LIDAR GRAVE-LAZI (ngày 9 tháng 9 năm 2014).
"OECD report: Israel has large expenditure on education but lower spending per student"
Jerusalem Post
(bằng tiếng Anh)
. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2015
"Top Ten Reasons to Invest in Israel"
. Israel Ministry of Foreign Affairs
. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2012
"Israel: IT Workforce"
Information Technology Landscape in Nations Around the World
. American University.
Bản gốc
lưu trữ ngày 13 tháng 9 năm 2006
. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2007
"Global Education Digest 2011"
(PDF)
UNESCO Institute for Statistics
. United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization. 2011. tr.
223.
Bản gốc
(PDF)
lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2016
. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2012
"Human Development Report 2009"
(PDF)
. United Nations Development Programme. 2009
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
"Israeli Schools: Religious and Secular Problems"
. Education Resources Information Center. ngày 10 tháng 10 năm 1984
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
Kashti, Or; Ilan, Shahar (ngày 18 tháng 7 năm 2007).
"Knesset raises school dropout age to 18"
Haaretz
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
"Summary of the Principal Laws Related to Education"
. Israel Ministry of Foreign Affairs. ngày 26 tháng 1 năm 2003.
Bản gốc
lưu trữ ngày 18 tháng 2 năm 2006
. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
Shetreet, Ida Ben; Woolf, Laura L. (2010).
"Education"
(PDF)
Publications Department
. Ministry of Immigrant Absorption
. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2012
"The Israeli Matriculation Certificate"
. United States-Israel Educational Foundation via the University of Szeged University Library. tháng 1 năm 1996.
Bản gốc
lưu trữ ngày 15 tháng 9 năm 2017
. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
"Christians in Israel: Strong in education"
ynet
. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2014
Концепция
Русского Израиля
– десять программных тезисов
. 19 июня 2015, 12:49, Cursorinfo Александр Гольденштейн
"Students in Grade 12 – Matriculation Examinees and Those Entitled to a Certificate"
. Israel Central Bureau of Statistics. 2016
. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2017
"Higher Education in Israel"
. Embassy of Israel In India.
Bản gốc
lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2012
. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012
Paraszczuk, Joanna (ngày 17 tháng 7 năm 2012).
"Ariel gets university status, despite opposition"
The Jerusalem Post
. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2013
"About Technion"
. Technion.
Bản gốc
lưu trữ 24 tháng 12 2013
. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2013
{{
Chú thích web
}}
Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:
archive-date=
trợ giúp
"Israel"
. Monash University.
Bản gốc
lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2013
. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2013
"History of the Library"
. National Library of Israel
. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2014
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
"Technion-Israel Institute of Technology – World Top 500 Universities"
. Academic Ranking of World Universities.
Bản gốc
lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2018
. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2013
"The Hebrew University of Jerusalem – World Top 500 Universities"
. Academic Ranking of World Universities.
Bản gốc
lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2013
. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2013
"Weizmann Institute of Science – World Top 500 Universities"
. Academic Ranking of World Universities.
Bản gốc
lưu trữ ngày 10 tháng 11 năm 2013
. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2013
"Two Israeli universities named among world's best"
The Jerusalem Post
. ngày 15 tháng 3 năm 2012.
"Israel"
. Academic Ranking of World Universities. 2011.
Bản gốc
lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2012
. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2012
"Asian Studies: Israel as a 'Melting Pot'
. National Research University Higher School of Economics
. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012
"Jewish Festivals and Days of Remembrance in Israel"
. Israel Ministry of Foreign Affairs.
Bản gốc
lưu trữ ngày 14 tháng 8 năm 2007
. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
Ran, Ami (ngày 25 tháng 8 năm 1998).
"Encounters: The Vernacular Paradox of Israeli Architecture"
. Ministry of Foreign Affairs
. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
Brinn, David (ngày 23 tháng 10 năm 2005).
"Israeli, Palestinian and Jordanian DJs create bridge for peace"
ISRAEL21c
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
"The International Israeli Table"
. Israel Ministry of Foreign Affairs
. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2009
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
"Amos Oz is most translated Israeli author"
Ynetnews
. ngày 10 tháng 2 năm 2009.
"Depositing Books to The Jewish National & University Library"
. Jewish National and University Library.
Bản gốc
lưu trữ 1 tháng 7 2007
. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:
archive-date=
trợ giúp
"Statistics for 2015"
. National Library of Israel
. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2017
"The Nobel Prize in Literature 1966"
. Nobel Foundation
. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
"Palestinian 'national poet' dies"
BBC News
. ngày 9 tháng 8 năm 2008.
Broughton, Ellingham
Trillo 1999
, tr.
365–369
"Israel"
World Music
. National Geographic Society.
Bản gốc
lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2012
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
Ben-Sasson 1985
, tr.
1095
Ewbank, Alison J.; Papageorgiou, Fouli T. (1997).
Whose Master's Voice?: The Development of Popular Music in Thirteen Cultures
. Greenwood Press. tr.
117
ISBN
978-0-313-27772-6
Davis, Barry (ngày 5 tháng 2 năm 2007).
"Israel Philharmonic Orchestra celebrates 70th anniversary"
. Ministry of Foreign Affairs (from Israel21c).
Bản gốc
lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2007
. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
"Israel"
Eurovision Song Contest
. European Broadcasting Union
. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2013
"History"
Eurovision Song Contest
. European Broadcasting Union
. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2013
"About the Red Sea Jazz Festival"
. Red Sea Jazz Festival.
Bản gốc
lưu trữ ngày 12 tháng 3 năm 2012
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
"Israeli Folk Music"
World Music
. National Geographic Society.
Bản gốc
lưu trữ ngày 3 tháng 1 năm 2012
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
Brown, Hannah (ngày 2 tháng 2 năm 2010).
'Ajami' nominated for Oscar"
Jerusalem Post
התיאטרון הלאומי הבימה
(bằng tiếng Do Thái). Habima National Theatre
. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
Dunham, Jennifer (2016).
"Freedom of the Press"
. Freedom House
. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2017
Diab, Khaled (ngày 11 tháng 2 năm 2013).
"Preaching – and Practicing – Media Freedom in the Middle East"
Haaretz
. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2017
"Reporting constrained by terror in the Middle East and North Africa"
. Reporters Without Borders. 2016.
Bản gốc
lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2017
. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2017
Ahituv, Netta (ngày 29 tháng 1 năm 2013).
"10 of Israel's best museums"
. CNN
. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2017
"About the Museum"
. The Israel Museum, Jerusalem.
Bản gốc
lưu trữ 2 tháng 3 2013
. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:
archive-date=
trợ giúp
"Shrine of the Book"
. The Israel Museum, Jerusalem.
Bản gốc
lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2007
. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
"About Yad Vashem"
. Yad Vashem.
Bản gốc
lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2012
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
"Museum Information"
. Beth Hatefutsoth
. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
TravelNet in cooperation with Israel museums.
"Mishkan LeOmanut, Ein Harod"
. Ilmuseums.com.
Bản gốc
lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2008
. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2009
Yael Raviv,
Falafel Nation,
University of Nebraska Press, 2015
Uzi Rebhun, Lilakh Lev Ari,
American Israelis: Migration, Transnationalism, and Diasporic Identity,
BRILL, 2010 pp.112-113.
Julia Bernstein,
Food for Thought: Transnational Contested Identities and Food Practices of Russian-Speaking Jewish Migrants in Israel and Germany,
Campus Verlag, 2010 pp.227,233-234.
Bernstein,
pp. 231–233
"Israel's Pork Problem"
Slate
. New York. ngày 8 tháng 8 năm 2012
. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2015
"Israel"
. International Olympic Committee
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
"Tel Aviv 1968"
. International Paralympic Committee
. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012
Torstrick 2004
, tr.
141
"Basketball Super League Profile"
. Winner Basketball Super League
. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2007
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
"Maccabi Electra Tel Aviv – Welcome to EUROLEAGUE BASKETBALL"
Bản gốc
lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2014
. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2014
"Israel Barred from Asian Games"
. Jewish Telegraphic Agency. ngày 26 tháng 7 năm 1976
. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2014
"Pawn stars shine in new 'national sport'
. Haaretz
. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012
"Chess In Schools in Israel
– A progress report"
. FIDE
. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012
"Ashdod schools to incorporate chess into curriculum"
. Haaretz
. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012
"Israel is introducing chess to the school curriculum"
. FIDE
. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012
Bekerman, Eitan (ngày 4 tháng 9 năm 2006).
"Chess masters set to blitz Rishon Letzion"
Haaretz
"World Team Championship in Beer Sheva, Israel"
. World Chess Federation. ngày 1 tháng 11 năm 2005
. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2009
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
Ellis, Judy (ngày 4 tháng 5 năm 1998).
"Choke! Gouge! Smash!"
TIME
. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2017
Thư mục
sửa
sửa mã nguồn
Abadi, Jacob (2004).
Israel's Quest for Recognition and Acceptance in Asia: Garrison State Diplomacy
. Routledge.
ISBN
0-7146-5576-7
Barton, John
; Bowden, Julie (2004).
The Original Story: God, Israel and the World
. Wm. B. Eerdmans Publishing Company.
ISBN
0-8028-2900-7
Ben-Sasson, Hayim (1985).
A History of the Jewish People
. Harvard University Press.
ISBN
978-0-674-39731-6
Bregman, Ahron
(2002).
A History of Israel
. Palgrave Macmillan.
ISBN
0-333-67631-9
Broughton, Simon; Ellingham, Mark; Trillo, Richard (1999).
World Music: The Rough Guide
. Rough Guides.
ISBN
1-85828-635-2
Cole, Tim (2003).
Holocaust City: The Making of a Jewish Ghetto
. Routledge.
ISBN
0-415-92968-7
Fraser, T. G. (2004).
The Arab-Israeli Conflict
. Palgrave Macmillan Limited.
ISBN
9781403913388
. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2013
Friedland, Roger; Hecht, Richard (2000).
To Rule Jerusalem
. University of California Press.
ISBN
0-520-22092-7
Gelvin, James L.
(2005).
The Israel-Palestine Conflict: One Hundred Years of War
. Cambridge University Press.
ISBN
0-521-85289-7
Gilbert, Martin (2005).
The Routledge Atlas Of The Arab–Israeli conflict
(ấn bản thứ 8). Routledge.
ISBN
0-415-35900-7
Goldreich, Yair (2003).
The Climate of Israel: Observation, Research and Application
. Springer.
ISBN
0-306-47445-X
Harkavy, Robert E.; Neuman, Stephanie G. (2001).
Warfare and the Third World
. Palgrave Macmillan.
ISBN
0-312-24012-0
Henderson, Robert D'A. (2003).
Brassey's International Intelligence Yearbook
(ấn bản thứ 2003). Brassey's Inc.
ISBN
1-57488-550-2
Herzl, Theodor
(1946).
The Jewish State
. American Zionist Emergency Council.
ISBN
0-486-25849-1
Jacobs, Daniel (1998).
Israel and the Palestinian Territories: The Rough Guide
(ấn bản thứ 2). Rough Guides.
ISBN
1-85828-248-9
Kellerman, Aharon (1993).
Society and Settlement: Jewish Land of Israel in the Twentieth Century
. State University of New York Press.
ISBN
0-7914-1295-4
Kornberg, Jacques (1993).
Theodor Herzl: From Assimilation to Zionism
. Indiana University Press.
ISBN
0-253-33203-6
Lustick, Ian (1988).
For the Land and the Lord: Jewish Fundamentalism in Israel
. Council on Foreign Relations Press.
ISBN
0-87609-036-6
Mazie, Steven (2006).
Israel's Higher Law: Religion and Liberal Democracy in the Jewish State
. Lexington Books.
ISBN
0-7391-1485-9
Morçöl, Göktuğ (2006).
Handbook of Decision Making
. CRC Press.
ISBN
1-57444-548-0
Mowlana, Hamid; Gerbner, George; Schiller, Herbert I. (1992).
Triumph of the File: The Media's War in the Persian Gulf
— A Global Perspective
. Westview Press.
ISBN
0-8133-1610-3
Roberts, Adam
(1990).
"Prolonged Military Occupation: The Israeli-Occupied Territories Since 1967"
The American Journal of International Law
. Quyển
84 số
1. American Society of International Law. tr.
44–
103.
doi
10.2307/2203016
JSTOR
2203016
{{
Chú thích tạp chí
}}
: Quản lý CS1: ref trùng mặc định (
liên kết
Romano, Amy (2003).
A Historical Atlas of Israel
. The Rosen Publishing Group.
ISBN
0-8239-3978-2
Rosenzweig, Rafael (1997).
The Economic Consequences of Zionism
. T Brill Academic Publishers.
ISBN
90-04-09147-5
Rummel, Rudolph J.
(1997).
Power Kills: Democracy As a Method of Nonviolence
. Transaction Publishers.
ISBN
0-7658-0523-5
Scharfstein, Sol (1996).
Understanding Jewish History
. KTAV Publishing House.
ISBN
0-88125-545-9
Segev, Tom (2007).
1967: Israel, the War, and the Year that Transformed the Middle East
. Henry Holt and Company.
ISBN
9780805070576
Shindler, Colin (2002).
The Land Beyond Promise: Israel, Likud and the Zionist Dream
. I.B.Tauris Publishers.
ISBN
1-86064-774-X
Skolnik, Fred (2007).
Encyclopedia Judaica
. Quyển
9 (ấn bản thứ 2). Macmillian.
ISBN
0-02-865928-7
Smith, Derek (2006).
Deterring America: Rogue States and the Proliferation of Weapons of Mass Destruction
. Cambridge University Press.
ISBN
0-521-86465-8
Stein, Leslie (2003).
The Hope Fulfilled: The Rise of Modern Israel
. Greenwood Press.
ISBN
0-275-97141-4
Stendel, Ori (1997).
The Arabs in Israel
. Sussex Academic Press.
ISBN
1-898723-23-0
Stone, Russell A.; Zenner, Walter P. (1994).
Critical Essays on Israeli Social Issues and Scholarship
. SUNY Press.
ISBN
0-7914-1959-2
Torstrick, Rebecca L. (2004).
Culture and Customs of Israel
. Greenwood Press.
ISBN
0-313-32091-8
Liên kết ngoài
sửa
sửa mã nguồn
Tìm hiểu thêm về
Israel
tại
các dự án liên quan
Từ điển
từ Wiktionary
Tập tin phương tiện
từ Commons
Tin tức
từ Wikinews
Danh ngôn
từ Wikiquote
Văn kiện
từ Wikisource
Tủ sách giáo khoa
từ Wikibooks
Cẩm nang du lịch guide
từ Wikivoyage
Tài nguyên học tập
từ Wikiversity
Dữ liệu
từ Wikidata
Chính phủ
Trang dịch vụ và thông tin chính phủ
Về Israel
tại Bộ Ngoại giao Israel
Trang chính thức
của Văn phòng Thủ tướng Israel
Trang chính thức
của Bộ Du lịch Israel
Trang chính thức
của Cục Thống kê Trung ương Israel
Thông tin tổng quát
Mục
“Israel”
trên trang của
CIA World Factbook
Israel
tại Thư viện Thị giác người Do Thái
Key Development Forecasts for Israel
từ
International Futures
Israel
- tài nguyên mạng GovPubs tại
Thư viện Đại học Colorado–Boulder
Israel
trên
DMOZ
Bản đồ
Wikimedia Atlas của Israel
Dữ liệu địa lý liên quan đến
Israel
tại
OpenStreetMap
Síp
Liban
Syria
Biển Levant
(bộ phận của
Địa Trung Hải
Jordan
Israel
Ai Cập
Vịnh Eilat
Ả Rập Saudi
Quốc gia và vùng lãnh thổ giáp
Địa Trung Hải
Quốc gia
Albania
Algérie
Bosna và Hercegovina
Croatia
Cộng hòa Síp
Ai Cập
Pháp
Hy Lạp
Israel
Liban
Libya
Malta
Monaco
Montenegro
Maroc
Slovenia
Tây Ban Nha
Syria
Tunisia
Thổ Nhĩ Kỳ
Quốc gia công nhận hạn chế
Bắc Síp
Palestine
Lãnh thổ phụ thuộc
Akrotiri và Dhekelia
Anh
Gibraltar
(Anh)
Các nước và lãnh thổ
Trung Đông
Ai Cập
Ả Rập Xê Út
Bahrain
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
Síp
Iran
Iraq
Israel
Jordan
Kuwait
Liban
Oman
Palestine
Qatar
Bắc Síp
Syria
Thổ Nhĩ Kỳ
Yemen
Quốc gia và lãnh thổ
tại
Châu Á
Quốc gia

chủ quyền
Afghanistan
Ai Cập
Ả Rập Xê Út
Armenia
Azerbaijan
Ấn Độ
Bahrain
Bangladesh
Bhutan
Brunei
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
Campuchia
Đông Timor
Gruzia
Hàn Quốc
Indonesia
Iran
Iraq
Israel
Jordan
Kazakhstan
Kuwait
Kyrgyzstan
Lào
Liban
Malaysia
Maldives
Mông Cổ
Myanmar
Nepal
Nga
Nhật Bản
Oman
Pakistan
Philippines
Qatar
Singapore
Síp
Sri Lanka
Syria
Tajikistan
Thái Lan
Thổ Nhĩ Kỳ
Turkmenistan
Bắc Triều Tiên
Trung Quốc
Uzbekistan
Việt Nam
Yemen
Quốc gia được
công nhận hạn chế
Abkhazia
Bắc Síp
Nam Ossetia
Palestine
Đài Loan
Lãnh thổ phụ thuộc

Đặc khu hành chính
Anh
Akrotiri và Dhekelia
Lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc Anh
Trung Quốc
Hồng Kông
Ma Cao
Úc
Đảo Giáng Sinh
Quần đảo Cocos (Keeling)
Lấy từ “
Thể loại
Trang có IPA tiếng Hebrew
Pages using largest cities with nav class
Israel
Khởi đầu năm 1948 ở Châu Á
Quốc gia và vùng lãnh thổ nói tiếng Ả Rập
Quốc gia châu Á
Đông Địa Trung Hải
Từ ngữ Do Thái
Quốc gia thành viên Liên minh Địa Trung Hải
Quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc
Quốc gia Trung Đông
Quốc gia Cận Đông
Palestine
Cộng hòa
Levant
Chính thể tại Vùng đất Israel
Quốc gia được công nhận hạn chế
Quốc gia Tây Á
Thể loại ẩn:
Bài cơ bản
Trang có các đối số formatnum không phải số
Nguồn CS1 tiếng Tây Ban Nha (es)
Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
Lỗi không có mục tiêu Harv và Sfn
Bản mẫu webarchive dùng liên kết wayback
Bài viết có văn bản tiếng Hebrew
Bài viết có văn bản tiếng Ả Rập
Bài viết có văn bản tiếng Việt nêu rõ
Trang sử dụng phần mở rộng Phonos
Trang có phát âm được ghi âm
Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản
Quản lý CS1: postscript
Bài viết có văn bản tiếng Ai Cập cổ đại
Bài viết cần chú thích chi tiết hơn
Trang sử dụng liên kết tự động ISBN
Lỗi CS1: tên chung
Lỗi CS1: thiếu tạp chí
Lỗi CS1: liên kết ngoài
CS1: giá trị quyển dài
Lỗi CS1: tham số thừa
Trang sử dụng bản mẫu nhiều hình với các hình được chia tỷ lệ thủ công
Nguồn CS1 có chữ Do Thái (he)
Nguồn CS1 tiếng Do Thái (he)
Lỗi CS1: ngày tháng
Trang đưa đối số thừa vào bản mẫu
Thử địa điểm CS1
Quản lý CS1: ref trùng mặc định
Bài viết chứa liên kết DMOZ
Israel
Thêm đề tài