Nga – Wikipedia tiếng Việt
Bước tới nội dung
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Đối với các định nghĩa khác, xem
Nga (định hướng)
Liên bang Nga
Tên bản ngữ
Российская Федерация
tiếng Nga
Rossiyskaya Federatsiya
Quốc
kỳ
Quốc
huy
Quốc
ca
Gosudarstvenny gimn
Rossiyskoy Federatsii
"Государственный гимн
Российской Федерации"
(tiếng Việt:
"Quốc ca Liên bang Nga"
Vị trí Liên bang Nga (xanh đậm) trên thế giới và các vùng đang chiếm đóng hoặc có tranh chấp (xanh nhạt)
Tổng
quan
Thủ
đô
và thành
phố
lớn
nhất
Moskva
55°45′B
37°37′Đ
55,75°B 37,617°Đ
55.750; 37.617
Ngôn ngữ chính thức và ngôn ngữ quốc gia
Tiếng Nga
Ngôn ngữ địa phương được công nhận
35
ngôn ngữ chính thức địa phương
Sắc
tộc
(2021; gồm cả
Bán đảo Krym
71,7%
người Nga
3,2%
người Tatar
1,1%
người Bashkir
1,1%
người Chechen
11,3% sắc tộc khác
11,6% không báo cáo
Tôn
giáo
(2024)
64,4%
Kitô giáo
61,8%
Chính thống giáo Nga
2,6% hệ phái khác
21,2%
không tôn giáo
9,5%
Hồi giáo
1,4% tôn giáo khác
3,5% không rõ
Tên dân cư
Người Nga
Chính
trị
Chính
phủ
Cộng hòa lập hiến
liên bang
Bán tổng thống chế
dưới chế độ
độc tài
chuyên chế
Tổng thống
Vladimir Putin
Thủ tướng
Mikhail Mishustin
Chủ tịch Hội đồng Liên bang
Valentina Matviyenko
Chủ tịch Duma
Vyacheslav Volodin
Lập
pháp
Quốc hội Liên bang
Thượng viện
Hội đồng Liên bang
Hạ viện
Duma Quốc gia
Lịch
sử
Hình thành
Rus' Kiev
882
Thân vương quốc Vladimir
1157
Thân vương quốc Moskva
1282
Sa quốc Nga
16 tháng 1 năm 1547
Đế quốc Nga
2 tháng 11 năm 1721
Cộng hòa Nga
14 tháng 9 năm 1917
Nga Xô viết
7 tháng 11 năm 1917
Liên Xô
30 tháng 12 năm 1922
Tuyên bố
12 tháng 6 năm 1990
Tuyên bố CIS
8 tháng 12 năm 1991
Liên bang Nga
25 tháng 12 năm 1991
Hiến pháp hiện hành
12 tháng 12 năm 1993
Nhà nước Liên minh
với
Belarus
8 tháng 12 năm 1999
Địa
lý
Diện
tích
Tổng cộng
17.098.246
km
(chưa tính
Krym
hạng
6.601.670
mi
Mặt
nước
(%)
13
11
(bao gồm vùng đầm lầy)
Dân
số
Ước
lượng
2025
146.028.325
12
(bao gồm Crimea)
13
143.569.049
(không bao gồm Crimea)
hạng
Mật
độ
8,4/km
hạng
187
21,5/mi
Kinh
tế
GDP
PPP
Ước
lượng
2025
Tổng
số
7,192 nghìn tỷ đô la Mỹ
14
hạng
Bình quân đầu người
49.383 đô la Mỹ
14
hạng
43
GDP
(danh nghĩa)
Ước
lượng
2025
Tổng
số
2,076 nghìn tỷ đô la Mỹ
14
hạng
11
Bình quân đầu người
14.258 đô la Mỹ
14
hạng
65
Đơn
vị
tiền
tệ
Rúp Nga
) (
RUB
Thông
tin
khác
Gini
(2020)
36,0
15
trung bình
HDI
(2023)
0,832
16
rất cao
hạng
64
Múi
giờ
UTC
+2 đến +12
Cách
ghi
ngày
tháng
nn-tt-nnnn
Giao
thông
bên
phải
Mã
điện
thoại
+7
Mã
ISO
3166
RU
Tên
miền
Internet
.ru
.su
(dự phòng)
.рф
Nga
tiếng Nga
Россия
chuyển tự
Rossiya
IPA:
rɐˈsʲijə
), tên gọi đầy đủ là
Liên bang Nga
17
18
tiếng Nga
Российская Федерация
chuyển tự
Rossiyskaya Federatsiya
IPA:
rɐˈsʲijskəjə
fʲɪdʲɪˈraʦəjə
, viết tắt là
RF
) là một quốc gia
cộng hòa liên bang
nằm ở phía Bắc của
lục địa Á-Âu
, đây là quốc gia có
diện tích lớn nhất
thế giới.
19
Nga là một nhà nước cộng hòa liên bang với
85 thực thể liên bang
và có biên giới giáp với
Na Uy
Phần Lan
Estonia
Latvia
Litva
Ba Lan
(cả hai đều qua
tỉnh Kaliningrad
),
Belarus
Ukraina
Gruzia
Azerbaijan
Kazakhstan
Trung Quốc
Mông Cổ
và
Bắc Triều Tiên
, có biên giới trên biển với
Nhật Bản
(qua
biển Okhotsk
),
Thổ Nhĩ Kỳ
(qua
biển Đen
),
Hoa Kỳ
(qua
eo biển Bering
) và
Canada
qua
Bắc Băng Dương
Với diện tích 17,098,246
km² (6,601,670
mi²
), Nga có diện tích lớn nhất thế giới, bao phủ gần 1/9 diện tích lục địa. Lãnh thổ Nga kéo dài qua phần phía bắc châu Á và 40% châu Âu, bao gồm 11 múi giờ và sở hữu nhiều loại địa hình. Nga có trữ lượng khoáng sản và năng lượng lớn nhất thế giới, được coi là một trong những
siêu cường năng lượng
20
21
22
23
Nga cũng có
diện tích rừng lớn nhất thế giới
và các hồ của Nga chứa xấp xỉ 25% lượng nước ngọt không đóng băng của thế giới.
24
Nga đã thiết lập tầm ảnh hưởng trên khắp thế giới từ thời
Đế quốc Nga
. Dưới thời kỳ
Liên bang Xô viết
nhà nước xã hội chủ nghĩa
đầu tiên trên thế giới, Liên Xô được công nhận là một trong hai
siêu cường
thời đó cùng với
Hoa Kỳ
25
đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong thắng lợi của
Khối Đồng Minh
trong
Thế chiến II
26
27
28
Liên bang Nga được thành lập kể từ sau
sự sụp đổ
và
tan rã
của Liên Xô cùng
Khối phía Đông
vào năm 1991 và được công nhận là sự kế tục pháp lý của nhà nước Xô viết.
29
Ngày nay, Nga là thành viên của
Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc
G20
APEC
SCO
EurAsEC
và lãnh đạo của
Cộng đồng các Quốc gia Độc lập
. Nga là một trong những
nước sở hữu vũ khí hạt nhân
được công nhận và đồng thời sở hữu kho
vũ khí hủy diệt hàng loạt
lớn nhất thế giới.
30
Nguồn gốc tên gọi
Bài chi tiết:
Tên của Rus', Nga và Ruthenia
Tên tiếng Nga
Tên gọi
Rossiya
có nguồn gốc từ
Rus
, một quốc gia thời Trung Cổ có dân cư chủ yếu là
người Đông Slav
. Tuy nhiên, bản thân tên gọi này chỉ mới xuất hiện trong các sử liệu khá gần đây và cư dân của quốc gia này gọi đất nước của họ với cái tên "Русская Земля" (russkaya zemlya), có thể tạm dịch là vùng đất của người Rus'. Các sử gia hiện đại gọi quốc gia này là
Rus' Kiev
để phân biệt nó với các quốc gia hậu thân. Bản thân danh xưng
Rus'
có nguồn gốc từ
tộc danh
của
người Rus'
, một phân nhóm của
tộc Varangia
(họ có lẽ chính là người
Viking
Swede
),
31
32
những người có công thành lập quốc gia Rus (Русь).
Phiên bản Latinh cổ của cái tên Rus' là
Ruthenia
, chủ yếu được dùng để chỉ các vùng phía tây và phía nam của Rus' - những nơi gần kề với
châu Âu
Công giáo. Tên gọi hiện nay của quốc gia, Россия (Rossiya), bắt nguồn từ tên gọi
tiếng Hy Lạp Trung đại
của Rus Kiev, Ρωσσία
Rossía
— viết là Ρωσία (
Rosía
phát âm
roˈsia
) trong
tiếng Hy Lạp hiện đại
33
Tên tiếng Việt
Hiện tại, quốc hiệu thông dụng của nước Nga trong
tiếng Trung
là "Nga La Tư" (俄羅斯, éluósì). Về nguồn gốc của từ "Nga La Tư", có thuyết cho rằng: vào trước thời
nhà Nguyên
, khi người Mông Cổ tiếp xúc với quốc gia này, do tiếng
Mông Cổ
không có phụ âm "r" đứng đầu, để tiện cho việc phát âm nên đã lặp lại nguyên âm trong âm thứ nhất của từ. Россия (Rossiya) vì thế biến đổi thành оРоссия (oRossiya), đến thời Nguyên thì người Mông Cổ sử dụng dịch danh Hán tự là "Oát La Tư" (斡羅思, wòluósì), phiên âm từ "o-Ro-ssi" và bỏ "ya". Những năm đầu thời
nhà Thanh
, trong nhiều văn hiến có sử dụng tên gọi "La Sát" (羅剎), song khi xưng hô giữa quốc gia với nhau thì phần nhiều dịch là Ngạc La Tư (鄂羅斯) hoặc Nga La Tư (俄羅斯). Vào những năm Càn Long thời Thanh, khi soạn "Tứ khố toàn thư" thì chính thức thay đổi thành Nga La Tư (俄羅斯, éluósì).
34
Do vậy theo phân tích trên thì chữ "Nga" lại không phiên âm cho âm tiết nào trong từ "Rossiya" cả.
Lịch sử
Bài chi tiết:
Lịch sử Nga
Các bộ lạc Đông Slav sinh sống và mở rộng ở châu Âu là tiền thân của Kievan Rus', nhà nước Đông Slav đầu tiên vào thế kỷ thứ 8 và 9.
Lịch sử của nước Nga bắt đầu từ lịch sử
Đông Slav
. Nhà nước
Đông Slav
đầu tiên, nước
Rus' Kiev
, đã chấp nhận việc du nhập
Ki-tô giáo
từ
Đế quốc Đông La Mã
vào năm
988
35
khởi đầu sự tổng hòa các nền văn hoá Đông La Mã và
Slav
lập ra văn hoá Nga trong một nghìn năm tiếp theo.
36
Nước Rus' Kiev nhanh chóng tan rã không còn là một Nhà nước nữa, cuối cùng chịu đầu hàng quân xâm lược
Mông Cổ
trong những năm 1230. Trong thời gian này, một số lãnh đạo địa phương, đặc biệt là xứ Novgorod và xứ Pskov, đã chiến đấu để thừa kế di sản văn hoá và chính trị của nước Rus' Kiev.
Sau thế kỷ XIII,
Moskva
dần trở thành trung tâm văn hoá. Tới thế kỷ XVIII,
Thân vương quốc Moskva
đã trở thành
Đế quốc Nga
rộng lớn, trải dài từ
Ba Lan
về phía đông tới
Thái Bình Dương
. Sự mở rộng về phía tây càng khiến nước Nga nhận thức được sự khác biệt của họ với đa phần còn lại của châu Âu và phá vỡ sự cô lập từng xảy ra ở những giai đoạn đầu mở rộng. Thời này có Nga hoàng
Pyotr Đại Đế
xóa bỏ một nước Nga lạc hậu, nửa Á Đông, tiến hành sự nghiệp lớn lao đổi mới đất nước.
37
38
Các vị Nữ hoàng
Anna
Elizaveta Petrovna
và
Ekaterina II
đều lên ngôi với những cuộc đảo chính do Ngự Lâm quân hỗ trợ.
39
Với chính sách bành trướng, phát triển thực lực của đất nước, triều đình
Nga hoàng
đã phá bỏ mối đe dọa từng có từ Vương quốc
Thụy Điển
và
Đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman
. Các triều đại nối tiếp nhau trong thế kỷ XIX đã đối phó với những áp lực đó bằng sự kết hợp giữa các cuộc cải cách miễn cưỡng và trấn áp. Chế độ
nông nô Nga
đã bị
bãi bỏ năm 1861
, nhưng sự huỷ bỏ này thực sự chỉ gây thêm phiền toái cho người
nông dân
và càng khiến áp lực cách mạng tăng cao. Trong khoảng thời gian từ khi chế độ nông nô bị huỷ bỏ tới khi bắt đầu
Chiến tranh thế giới lần thứ nhất
năm 1914, các cuộc
cải cách Stolypin
hiến pháp 1906
và
Duma quốc gia
đã mang lại những thay đổi đáng kể cho nền kinh tế và chính trị Nga,
40
nhưng các hoàng đế Nga vẫn không muốn rời bỏ quyền lực
tuyệt đối
, hay chia sẻ quyền lực.
41
Cách mạng Nga
năm 1917 được khởi phát từ một sự tổng hợp các yếu tố tan rã kinh tế, tình trạng kiệt quệ do chiến tranh, và sự bất bình với hệ thống chính phủ chuyên quyền, và lần đầu tiên một liên minh giữa những người tự do và xã hội chủ nghĩa ôn hoà lên nắm quyền lực, nhưng các chính sách sai lầm của họ đã khiến những người
Cộng sản
Bolshevik
chiếm quyền lực vào ngày 25 tháng 10 (
lịch Julius
, tức ngày 7 tháng 11 theo
lịch Gregory
). Từ năm 1922 tới năm 1991, lịch sử Nga chủ yếu là
Lịch sử Liên Xô
, một nhà nước hoàn toàn dựa trên ý thức hệ gồm các quốc gia láng giềng của
Đế quốc Nga
trước
Hòa ước Brest-Litovsk
. Tuy nhiên, việc tiếp cận cách thức xây dựng chủ nghĩa xã hội khác nhau trong từng thời điểm trong lịch sử
Liên Xô
, từ nền kinh tế pha trộn và xã hội và văn hoá đa dạng hồi thập niên 1920 tới nền kinh tế chỉ huy và trấn áp thời
Stalin
tới "thời kỳ trì trệ" thập niên 1980. Từ những năm đầu tiên, chính phủ Liên Xô đã dựa trên nền tảng độc đảng của những người Cộng sản, như những người Bolshevik tự gọi mình, từ tháng 3 năm 1918.
42
Tuy nhiên, tới cuối thập niên 1980, khi sự yếu kém của các cơ cấu kinh tế và chính trị đã trở nên gay gắt, các lãnh đạo cộng sản đã tiến hành các cải cách lớn, dẫn tới sự sụp đổ của Liên bang Xô viết.
43
Lịch sử Liên bang Nga
khá ngắn, chỉ bắt đầu từ sự sụp đổ của Liên Xô năm 1991. Từ khi giành lại độc lập, nước Nga đã được công nhận là nhà nước thừa kế chính thức của Liên Xô trên bình diện quốc tế.
44
Tuy nhiên, nước Nga đã mất vị trí
siêu cường
của mình và đang phải đối mặt với những thách thức trong các nỗ lực thiết lập một hệ thống kinh tế và chính trị hậu Xô viết. Loại bỏ nền
kinh tế kế hoạch tập trung
và quyền sở hữu nhà nước thời kỳ Xô viết, nước Nga đang nỗ lực xây dựng một nền kinh tế mang các yếu tố của thị trường
tư bản
, với những hậu quả nhiều khi khá nặng nề. Thậm chí ngày nay nước Nga vẫn mang nhiều nét đặc trưng văn hoá và xã hội thời kỳ Sa Hoàng và Liên Xô.
Nước Rus' Kiev
Bài chi tiết:
Rus' Kiev
Kiev Rus' sau Công đồng Liubech năm 1097
Phần lớn diện tích đất đai của nước Nga ngày nay là lãnh thổ của các
bộ lạc
khác nhau như
người Goth
Hun
và
Avar
gốc Thổ trong khoảng thời gian từ
thế kỷ III
tới
thế kỷ VI
. Bộ lạc
người Scythia
gốc
Iran
sinh sống ở các
thảo nguyên
miền nam, và bộ lạc
người Ca dắc
Khazar
) gốc Tuốc (
Turk
) đã cai trị phần phía tây của vùng đất này cho đến
thế kỷ VIII
. Sau đó họ đã bị bộ lạc gốc Scandinavi là người
Varangia
thay thế, bộ lạc này đã thiết lập
thủ đô
tại thành phố của người Slav
Novgorod
và dần dần hòa trộn với
người Slav
. Người Slav tạo thành nhóm dân cư chính từ thế kỷ VIII trở đi và đồng hóa một cách chậm chạp cả những người gốc Scandinavi cũng như các bộ lạc bản địa gốc
Phần Lan-Ugric
, chẳng hạn như
người Merya
Muromia
và
Meshchera
Chính quyền của người Varangia tồn tại trong vài thế kỷ, trong thời gian đó họ liên kết với
Chính thống giáo
và chuyển thủ đô về
Kiev
năm
1169
. Trong kỷ nguyên này thuật ngữ "Rhos", hoặc "
Russ
" lần đầu tiên được sử dụng để chỉ người Varangia và người Slav sinh sống trong khu vực. Từ
thế kỷ X
đến
thế kỷ XI
quốc gia
Rus' Kiev
Киевская Русь
) đã trở thành lớn nhất ở châu Âu và rất thịnh vượng nhờ các hoạt động
thương mại
tích cực với cả châu Âu và châu Á.
Trong
thế kỷ XIII
khu vực này trở nên suy yếu vì những tranh chấp nội bộ và bị tàn phá bởi những kẻ xâm lược phương đông là
Kim trướng
của người
Mông Cổ
và các bộ lạc Hồi giáo gốc Turk, là những kẻ đã cướp bóc các
công quốc
Nga trên ba thế kỷ. Còn được biết đến như là
người Tatar
, họ đã cai trị vùng miền nam và miền trung Nga ngày nay, trong khi các vùng miền tây bị sáp nhập vào
Đại công quốc Lietuva
và
Ba Lan
. Sự chia cắt về chính trị của Rus Kiev đã tách
người Nga
ở phía bắc ra khỏi
người Belarus
và
người Ukraina
ở phía tây.
Phần phía bắc của Nga cùng với
Novgorod
vẫn giữ được sự tự trị ở một mức độ nhất định trong thời gian cai trị của
người Mông Cổ
. Tuy thế Nga cũng đã phải chiến đấu chống lại đội quân thập tự chinh của
người Đức
khi người Đức có ý đồ chiếm khu vực này làm thuộc địa.
Giống như khu vực
Balkan
và
Tiểu Á
sự cai trị kéo dài của những người
du mục
đã làm chậm sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước này. Sự
chuyên quyền
kiểu châu Á đã ảnh hưởng tiêu cực tới thể chế dân chủ của đất nước cũng như tới văn hóa và kinh tế.
Bất chấp điều đó, không giống như lãnh đạo tinh thần của mình là
Đế chế Byzantine
, Nga đã không suy tàn và tổ chức những cuộc nổi dậy để giành độc lập, cuối cùng đã khuất phục được các kẻ thù của mình và khôi phục, mở mang lãnh thổ. Sau thất thủ của
Constantinople
năm
1453
, Nga là quốc gia
Chính thống giáo
duy nhất còn thực sự hoạt động nhiều hay ít ở phần biên giới phía đông châu Âu, điều này cho phép Nga có quyền nhận mình là quốc gia kế tục hợp pháp của Đế chế Byzantine.
Đế quốc Nga
Bài chi tiết:
Đế quốc Nga
Peter Đại đế
chính thức tuyên bố thành lập Đế quốc Nga vào năm 1721 và trở thành vị hoàng đế đầu tiên.
Trong khi về danh nghĩa vẫn nằm dưới sự cai trị của người Mông Cổ thì
Thân vương quốc Moskva
đã bắt đầu xác nhận ảnh hưởng của mình và cuối cùng đã thoát khỏi sự kiểm soát của những kẻ xâm lăng vào cuối
thế kỷ XIV
Ivan Hung đế
, vị vua đầu tiên xưng tước vị
Sa hoàng
, đã kết thúc quá trình này và liên kết các khu vực xung quanh dưới ảnh hưởng của Moskva và tiến quân tới những vùng đất rộng lớn ở
Siberia
mà lịch sử gọi là
Nga chinh phục Siberia
(1580–1778).
Đế chế Nga
ra đời.
Sự kiểm soát của Moskva đối với quốc gia mới ra đời còn tiếp tục dưới
triều đại Romanov
kế tiếp, bắt đầu với
Sa hoàng Mikhail Romanov
năm
1613
Pyotr Đại đế
, Sa hoàng từ
1689
tới
1725
, đã thành công trong việc đem các tư tưởng và văn hóa từ Tây Âu vào Nga, khi đó còn chịu ảnh hưởng lớn của nền văn hóa du mục nguyên thủy. Những cải cách của Pyotr cùng với chiến thắng của Nga đánh bại
Thụy Điển
trong
Đại chiến Bắc Âu
chống quân
Thụy Điển
đã đưa Nga vươn lên thành một trong những cường quốc châu Âu khi đó. Các nữ hoàng
Elizaveta
(Елизаве́та; cai trị
1740
1762
),
Ekaterina Đại đế
(Екатерина II Алексеевна;
1762
1796
) đã tiếp bước gầy dựng Đế quốc Nga, bảo trợ khoa học, nghệ thuật, chinh phục nhiều vùng đất lớn của Thụy Điển,
Thổ Nhĩ Kỳ
và đánh bại
Phổ
trong
chiến tranh Bảy năm
Tuy nhiên, sự nổi loạn của nông nô bị áp bức và sự cấm đoán tầng lớp
trí thức
đang phát triển và các giai cấp gần gũi với giai cấp này, cộng thêm gánh nặng thất bại (trận
Hải chiến Đối Mã
) trước người Nhật trong
chiến tranh Nga-Nhật
năm 1905 đã dẫn đến cuộc
Cách mạng 1905
. Trước
Chiến tranh thế giới thứ nhất
, vai trò của Sa hoàng
Nikolai II
(Николай Александрович Романов) và triều đại của ông là không vững chắc. Những thất bại nặng nề của quân đội Nga trong Chiến tranh thế giới thứ nhất đã dẫn đến sự nổi dậy rộng khắp trong các thành phố chính của
Đế chế Nga
và dẫn tới sự sụp đổ của nhà Romanov năm
1917
, đó là
Cách mạng tháng Hai
Vào giai đoạn cuối của
Cách mạng tháng Mười
(1917), những người theo đường lối
Bolshevik
của
Đảng Cộng sản
dưới sự lãnh đạo của
Vladimir Ilyich Lenin
đã giành được chính quyền thành lập
Liên Xô
. Sự lãnh đạo của
Iosif Vissarionovich Stalin
đã thúc đẩy nhanh quá trình
công nghiệp hóa
một đất nước chủ yếu là nông nghiệp và
tập thể hóa
nền nông nghiệp đưa đất nước phát triển vượt bậc. Điều này cũng làm tăng cường vị thế của
Liên Xô
Nga Xô viết
Bài chi tiết:
Các nước Cộng hoà thuộc Liên xô
Lịch sử Liên bang Xô viết
, và
Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga
Lenin
phát biểu trước đám đông tại
Quảng trường Sverdlov
ở Moscow, bên cạnh ông là
Leon Trotsky
và
Lev Kamenev
, tháng 5 năm 1920.
Sau
Cách mạng tháng 10
, một cuộc
nội chiến
bùng phát giữa phong trào Cách mạng Bolsheviks và quân
Bạch vệ
phản cách mạng, tuy
Hòa ước Brest-Litovsk
đã chấm dứt những thù địch với
Liên minh Trung tâm
trong
Thế chiến I
. Nga đã mất các lãnh thổ tại
Ukraina
Ba Lan
Baltic
Phần Lan
khi ký kết hiệp ước.
Các cường quốc Đồng Minh
can thiệp quân sự
hỗ trợ cho các lực lượng chống đảng Bolshevik. Tới cuối cuộc
Nội chiến Nga
, nền kinh tế và cơ sở hạ tầng của Nga đã bị phá huỷ nghiêm trọng, gây ra
nạn đói năm 1921
đã làm thiệt mạng từ 1 tới 5 triệu người.
45
Nhờ sự ủng hộ của người dân và lý tưởng chiến đấu cao, lực lượng Xô viết cuối cùng đã đánh bại Bạch Vệ, đánh đuổi được quân của các ngoại quốc can thiệp và thống nhất đất nước.
Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga
cùng với các nước cộng hoà thuộc Liên xô khác dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã
thành lập
Liên bang Xô viết
ngày 30 tháng 12 năm 1922. Trong số
15 nước cộng hoà
thành lập Liên Xô,
Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga
, nước cộng hoà lớn nhất về diện tích và chiếm tới hơn một nửa dân số Nga, chiếm đa số dân cư tại Liên bang Xô viết trong toàn bộ lịch sử 89 năm của nó. Vì thế, Liên bang Xô viết thường được gọi, dù một cách không chính thức, là
"Nga"
và người dân của nó là
"người Nga"
Sau khi
Lenin
qua đời năm 1924, một lãnh đạo Bolshevik khác là
Joseph Stalin
lên củng cố quyền lực. Ông bãi bỏ các chính sách
kinh tế thị trường
của Lenin và đưa ra một nền
kinh tế chỉ huy
, nhanh chóng
công nghiệp hoá
đất nước vẫn còn hầu hết là nông nghiệp,
tập thể hoá
nền nông nghiệp. Những động thái này đã biến Liên Xô từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu trở thành một
cường quốc
công nghiệp thứ 2 thế giới chỉ trong một thời gian rất ngắn, chưa đầy 20 năm. Tuy nhiên, sự chuyển tiếp này cũng đi kèm với hậu quả, hàng triệu người đã phải di cư tới những vùng xa xôi (xem
Phi kulak hoá
Di chuyển dân cư tại Liên xô
).
Lá cờ chiến thắng
của
Hồng quân
cắm trên nóc
tòa nhà Reichstag (Quốc hội Đức)
sau
Trận Berlin
tháng 5 năm 1945.
Ngày 22 tháng 6 năm 1941,
Phát xít Đức xâm lược Liên Xô
với lực lượng lớn và mạnh nhất trong lịch sử nhân loại,
46
mở ra
mặt trận đẫm máu của Thế chiến II
. Dù
quân đội Đức
có những thắng lợi lớn ở thời điểm ban đầu, cuộc tấn công của họ đã bị chặn lại trong
Trận Moskva
; sau đó người Đức đã phải chịu nhiều thất bại quan trọng khác, đầu tiên tại
Trận Stalingrad
mùa đông năm 1942–1943,
47
sau đó tại
Trận chiến Vòng cung Kursk
vào mùa hè năm
1943
. Một nơi khác đánh dấu thất bại của Phát xít Đức trước chủ nghĩa anh hùng Liên Xô là thành phố
Leningrad
, nơi bị các lực lượng Đức
phong tỏa hoàn toàn trên đất liền
giai đoạn 1941–44 và phải chịu nạn đói với hàng triệu người chết, nhưng thành phố đã không chịu đầu hàng. Dưới sự lãnh đạo của các vị tướng xuất chúng như
Georgy Zhukov
và
Konstantin Rokossovsky
, các lực lượng Liên Xô đã chuyển sang giai đoạn phản công, tiến qua
Đông Âu
năm 1944–45 và
chiếm Berlin
tháng 5 năm 1945. Sau đó, quân đội Liên xô
đẩy lùi Nhật Bản
khỏi vùng
Mãn Châu
của
Trung Quốc
và
Bắc Triều Tiên
, một đóng góp quan trọng vào thắng lợi của Đồng Minh trước Nhật Bản.
Giai đoạn 1941–1945 của
Thế chiến II
được gọi là
Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại
tại Nga. Trong cuộc xung đột này, vốn gồm nhiều
chiến dịch quân sự có thiệt hại nhân mạng lớn nhất
trong
lịch sử loài người
, con số thiệt mạng của Liên Xô là 8,7 triệu binh sĩ và 15,9 triệu thường dân
48
chiếm khoảng một phần ba tổng số
thương vong trong Thế chiến II
. Kinh tế và hạ tầng Liên Xô bị phá hủy nặng nề
49
nhưng Liên bang Xô viết đã nổi lên trở thành một
siêu cường
được công nhận.
Hồng quân
chiếm
Đông Âu
sau cuộc chiến, gồm cả
nửa phía đông
của nước Đức; Stalin đã thiết lập các chính phủ xã hội chủ nghĩa tại
các quốc gia vệ tinh
này. Trở thành
cường quốc hạt nhân
số hai thế giới, Liên Xô đã thành lập
Khối hiệp ước Warszawa
đồng minh và bước vào một cuộc đấu tranh giành ảnh hưởng trên thế giới với
Hoa Kỳ
, được gọi là cuộc
Chiến tranh Lạnh
Liên Xô
đã đưa
Chủ nghĩa Cộng sản
của mình tới những đồng minh mới giành được độc lập,
Trung Quốc
cùng với
Bắc Triều Tiên
, trong khi cũng giúp các nước này thực hiện
công nghiệp hoá
và
phát triển
. Sau đó các ý tưởng của
Chủ nghĩa Cộng sản
cũng đã giành được chỗ đứng tại
Cuba
và nhiều quốc gia khác.
Sau khi
Stalin
qua đời, một lãnh đạo mới
Nikita Khrushchev
lên án sự
sùng bái cá nhân với Stalin
và khởi động quá trình
phi Stalin hoá
. Các
Gulag
bị bãi bỏ và đại đa số tù nhân được thả ra;
50
việc loại bỏ các chính sách của Stalin sau này được gọi là thời kỳ tan băng Khruschev. Liên bang Xô viết phóng
vệ tinh nhân tạo
đầu tiên của thế giới,
Sputnik 1
, và
nhà du hành vũ trụ
Nga
Yuri Gagarin
trở thành người đầu tiên bay quanh
Trái Đất
trên tàu vũ trụ có người điều khiển đầu tiên,
Vostok 1
. Những căng thẳng với
Hoa Kỳ
lên cao khi hai đối thủ xung đột về việc Mỹ triển khai
các tên lửa Jupiter
tại
Thổ Nhĩ Kỳ
và Liên xô triển khai
tên lửa tại Cuba
Sau khi Khrushchev bị buộc phải từ chức, một giai đoạn cầm quyền tập thể ngắn khác kế tiếp, cho tới khi
Leonid Brezhnev
lên nắm quyền lãnh đạo chính trị Liên Xô vào đầu thập niên 1970. Thời kỳ cầm quyền của Brezhnev chứng kiến giai đoạn
trì trệ kinh tế
, bởi những nỗ lực cải cách của
Thủ tướng
Alexey Kosygin
, đã bị dừng lại. Những cuộc cải cách này có mục tiêu chuyển trọng tâm của nền
kinh tế Liên Xô
từ
công nghiệp nặng
và
sản xuất quân sự
sang
công nghiệp nhẹ
và sản xuất
hàng tiêu dùng
, tuy nhiên điều này cũng có nghĩa là việc
phi tập trung hoá
nền kinh tế và áp dụng các yếu tố kiểu
tư bản
, và giới lãnh đạo trung thành với
Chủ nghĩa cộng sản
sẽ không bao giờ chấp nhận nó. Từ năm 1979 cuộc
chiến tranh Xô viết tại Afghanistan
đã làm hao mòn các nguồn tài nguyên kinh tế mà không mang lại một kết quả có ý nghĩa chính trị nào. Cuối cùng
các lực lượng Liên Xô
đã rút khỏi Afghanistan năm 1989 vì sự phản đối quốc tế và thiếu sự ủng hộ từ trong nước. Căng thẳng giữa Liên Xô và Mỹ lại gia tăng vào đầu thập niên 1980, được tăng cường bởi tình cảm chống Liên Xô tại Mỹ,
đề xuất SDI
, và vụ bắn hạ
chuyến bay 007 của Korean Air Lines
năm 1983 của Liên Xô.
Trước năm 1991,
kinh tế Liên Xô
luôn là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới,
51
nhưng trong những năm cuối cùng nó đã bị ảnh hưởng bởi sự thiếu hụt hàng hoá, những khoản thâm hụt tài chính và việc tăng nguồn cung tiền đã dẫn tới lạm phát.
52
Từ năm 1985 trở về sau, lãnh đạo cuối cùng của Liên Xô
Mikhail Gorbachev
đã đưa ra các chính sách
glasnost
(mở cửa) và
perestroika
(tái cơ cấu) trong một nỗ lực nhằm hiện đại hoá đất nước và biến nó thành
dân chủ
hơn. Tuy nhiên, việc này đã dẫn tới sự trỗi dậy của các
phong trào ly khai
và
sự giải tán Liên Xô
. Tháng 8 năm 1991, một
cuộc đảo chính quân sự
bất thành, chống lại Gorbachev nhằm mục tiêu duy trì Liên Xô, nhưng cuộc đảo chính thất bại và đã dẫn tới sự tan rã của Liên Xô. Tại
Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga
Boris Yeltsin
lên nắm quyền lực và tuyên bố chấm dứt chế độ
xã hội chủ nghĩa
. Liên Xô tan rã thành
15 nước cộng hoà độc lập
và
chính thức giải tán
tháng 12 năm 1991. Boris Yeltsin được bầu làm
Tổng thống Nga
tháng 6 năm 1991, cuộc
bầu cử tổng thống trực tiếp
đầu tiên trong lịch sử Nga.
Liên bang Nga (1991 tới nay)
Bài chi tiết:
Lịch sử Nga hậu Xô viết
Lễ ký kết
Hiệp định Belovezha
thành lập
Cộng đồng các quốc gia độc lập
vào ngày 8 tháng 12 năm 1991.
Vào giai đoạn giữa và cuối thập niên 1980,
tổng bí thư
Mikhail Sergeyevich Gorbachov
đề ra
glasnost
гласность
tức "công khai hóa, mở cửa") và
perestroika
Перестройка
tức "cải tổ") trong cố gắng để hiện đại hóa
chủ nghĩa cộng sản
. Những sáng kiến của ông
đã vô tình giải phóng các lực lượng
mà vào
tháng 12
năm
1991
đã chia tách Liên Xô thành 15 nước cộng hòa độc lập trong đó Nga là lớn nhất. Kể từ đó, Nga đã cố gắng để xây dựng một hệ thống chính trị
đa đảng
và
kinh tế thị trường
theo mô hình
tư bản chủ nghĩa
nhằm thay thế cho các sự kiểm soát chặt chẽ về xã hội, chính trị, kinh tế trong thời kỳ Liên Xô. Tuy nhiên, quá trình này không diễn ra êm ả. Kinh tế Nga suy sụp đáng kể trong 10 năm cầm quyền của Tổng thống
Boris Yeltsin
. Kể từ khi
Chechnya
tuyên bố độc lập vào đầu những năm
thập niên 1990
, những cuộc
chiến tranh du kích
Chiến tranh Chechnya lần 1
Chiến tranh Chechnya lần 2
) đã diễn ra giữa các nhóm
người Chechen
khác nhau với quân đội Nga. Một số các nhóm này đã trở thành những kẻ
Hồi giáo
cực đoan theo tiến trình của cuộc chiến. Ước tính có trên 200.000 người đã chết trong các cuộc xung đột này. Các cuộc xung đột nhỏ hơn diễn ra ở
Bắc Ossetia
và
Ingushetia
Sau thời gian làm tổng thống của
Boris Yeltsin
trong những năm thập niên 1990,
Vladimir Vladimirovich Putin
đã được bầu làm tổng thống năm
1999
. Dưới thời kỳ Putin, một số giá trị và chính sách của Liên Xô được tái áp dụng, sự kiểm duyệt của nhà nước đối với các
phương tiện thông tin đại chúng
ở Nga tăng lên. Phương Tây luôn chỉ trích về
nhân quyền
ở Nga trong thời kỳ Vladimir Putin lãnh đạo, nhưng thời kỳ này đã chứng kiến việc Nga thoát ra khỏi
khủng hoảng kinh tế
và chính trị, và uy tín của Putin với người dân Nga tăng lên rất cao.
Với sự mất đi ảnh hưởng của Nga tại
Gruzia
Cách mạng hồng
),
Ukraina
Cách mạng da cam
),
Kyrgyzstan
Cách mạng Tulip
) và một số quốc gia cựu thành viên Xô viết cũ, cũng như các vấn đề hiện nay về kinh tế và chủ nghĩa ly khai (nổi cộm nhất là ở
Chechnya
), một số bình luận viên cho rằng có nguy cơ an ninh đối với nước Nga vẫn là rất cao.
Sau cuộc chiến chớp nhoáng (07 - 12/08/2008) nhằm trả đũa việc quân đội
Gruzia
tấn công những người Nga và lực lượng gìn giữ hòa bình của Nga ở
Nam Ossetia
, Nga công nhận độc lập và chủ quyền của 2 vùng tự trị
Abkhazia
và
Nam Ossetia
(26/08/2008). Năm 2014, Nga sáp nhập bán đảo
Crimea
sau cuộc trưng cầu dân ý của người địa phương. Cuối năm 2015, Nga đem quân hỗ trợ chính phủ
Syria
trong cuộc chiến chống lại các nhóm nổi dậy và
nhà nước Hồi giáo IS
. Các động thái này cho thấy tham vọng của Nga trong việc lấy lại vị thế và tiếng nói trong khu vực
SNG
và cao hơn nữa có thể là việc trở lại vị thế
siêu cường
của Liên bang Xô viết trong một hoàn cảnh hoàn toàn mới.
Chính phủ và chính trị
Bài chi tiết:
Chính phủ Nga
Tổng thống
Vladimir Putin
Thủ tướng
Mikhail Mishustin
Theo
hiến pháp Nga
sau khi chế độ cộng sản sụp đổ, được thông qua trong cuộc trưng cầu dân ý ngày 12 tháng 12 năm 1993 sau cuộc
khủng hoảng hiến pháp Nga năm 1993
, Nga là một
liên bang
và theo chính thức là một nền
cộng hoà
bán tổng thống
, theo đó Tổng thống là
nguyên thủ quốc gia
53
và
Thủ tướng
là
lãnh đạo chính phủ
. Nga được cơ cấu theo nền tảng một chế độ
dân chủ đại diện
Quyền hành pháp
thuộc chính phủ.
54
Quyền lập pháp
thuộc hai viện của
Quốc hội Liên bang
55
Chính phủ được điều chỉnh bằng một hệ thống
kiểm tra và cân bằng
được định nghĩa trong Hiến pháp Liên bang Nga, là tài liệu pháp lý tối cao của đất nước và
khế ước xã hội
cho người dân Liên bang Nga. Chính phủ Liên bang gồm ba nhánh:
Lập pháp
Quốc hội Liên bang
lưỡng viện
, gồm
Duma Quốc gia
và
Hội đồng Liên bang
thông qua
luật liên bang
tuyên chiến
, thông qua các hiệp ước, có
quyền phê duyệt ngân sách
, và có quyền
luận tội
, theo đó có thể phế truất Tổng thống.
Hành pháp
: Tổng thống là
tổng tư lệnh
quân đội, có thể phủ quyết
dự luật
trước khi nó có hiệu lực, và chỉ định Nội các và các quan chức khác, những người giám sát và thực hiện các điều luật và chính sách liên bang.
Tư pháp
Toà án Hiến pháp
Toà án Tối cao
Toà án Trọng tài
và
các toà án liên bang
cấp thấp hơn, với các thẩm phán do Hội đồng Liên bang chỉ định theo sự giới thiệu của tổng thống, giải thích pháp luật và có thể bác bỏ các điều luật mà họ cho là
vi hiến
Theo hiến pháp, phán quyết tại toà dựa trên tính bình đẳng của mọi công dân,
56
các thẩm phán là độc lập và chỉ làm theo pháp luật,
57
các phiên toà được mở và người bên bị được quyền có luật sư bào chữa.
58
Từ năm 1996, Nga đã quy định đình hoãn hình phạt
tử hình
, dù hình phạt tử hình chưa bị pháp luật bãi bỏ.
Tổng thống được bầu theo phổ thông đầu phiếu với nhiệm kỳ sáu năm (được tham gia tranh cử nhiệm kỳ hai nhưng bị hiến pháp cấm cầm quyền ba nhiệm kỳ liên tiếp);
59
cuộc bầu cử gần nhất được tổ chức năm 2018. Các bộ của chính phủ gồm thủ tướng và các phó thủ tướng, bộ trưởng và các cá nhân được lựa chọn khác; tất cả đều do tổng thống chỉ định theo sự giới thiệu của Thủ tướng (tuy nhiên việc chỉ định thủ tướng phải được Duma Quốc gia thông qua).
Nhánh lập pháp quốc gia là
Quốc hội Liên bang
, gồm hai viện;
Duma Quốc gia
với 450 thành viên
60
và
Hội đồng Liên bang
176 thành viên. Các đảng chính trị lớn của Nga gồm
Nước Nga Thống nhất
Đảng Cộng sản
Đảng Dân chủ Tự do Nga
, và
Nước Nga Công bằng
Quan hệ ngoại giao
Bài chi tiết:
Quan hệ ngoại giao của Nga
Tổng thống Nga Putin và Tổng thống Hoa Kỳ
Donald Trump
gặp nhau tại
Alaska
trong khuôn khổ
Hội nghị thượng đỉnh Nga – Mỹ năm 2025
Liên bang Nga được luật pháp quốc tế công nhận là
nhà nước kế tục
của
Liên Xô
cũ.
29
Nga tiếp tục thực hiện các cam kết quốc tế của Liên Xô, và đã nhận chiếc ghế thường trực của Liên Xô tại
Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc
, tư cách thành viên trong các tổ chức quốc tế khác, các quyền và nghị vụ theo các hiệp ước quốc tế, tài sản và các khoản nợ. Nga có chính sách đối ngoại đa dạng. Ở thời điểm năm 2009, nước này có quan hệ ngoại giao với 173 quốc gia và có 142 đại sứ quán.
61
Chính sách đối ngoại được
Tổng thống Nga
vạch ra và được
Bộ ngoại giao
thực hiện.
62
Là một trong thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc, Nga đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì hoà bình và an ninh quốc tế. Nước này tham gia vào
Nhóm bộ tứ cho Trung Đông
và
Đàm phán sáu bên
về vấn đề hạt nhân trên
bán đảo Triều Tiên
. Nga là một thành viên của
G8
Hội đồng châu Âu
OSCE
và
APEC
. Nga thường có vai trò lãnh đạo trong các tổ chức cấp vùng như
CSI
EurAsEC
CSTO
, và
SCO
. Cựu tổng thống Vladimir Putin đã ủng hộ một đối tác chiến lược với sự hội nhập ở nhiều cấp độ gồm cả việc thành lập
bốn không gian chung giữa Nga và EU
63
Từ khi Liên Xô sụp đổ, Nga đã phát triển một
mối quan hệ
thân cận hơn dù không ổn định với
NATO
Hội đồng NATO-Nga
được thành lập năm 2002 để cho phép 26 nước Đồng minh và Nga cùng làm việc như những đối tác bình đẳng để theo đuổi sự hợp tác chung.
64
Mối quan hệ giữa Nga và
Hoa Kỳ
trở nên ngày càng căng thẳng trong những năm gần đây sau những sự kiện như cuộc khủng hoảng ở
Ukraina
năm 2014 dẫn tới việc Nga sáp nhập
Crimea
, sự can thiệp quân sự của Nga trong cuộc
Nội chiến Syria
vào năm 2015, và từ cuối năm 2016 với những nghi ngờ về một sự can thiệp của Nga vào cuộc bầu cử tổng thống tại Mỹ.
Quan hệ giữa Nga và
Trung Quốc
đã đạt được nhiều thành tựu trong các vấn đề song phương và đa phương thời gian qua. Liên minh Nga – Trung Quốc hoạt động dựa trên nguyên tắc về lợi ích chung nhưng quan hệ chiến lược với Trung Quốc sẽ thực sự là một áp lực trong thập kỷ tiếp theo. Vấn đề trở ngại lớn nhất là sự nới rộng khoảng cách giữa Trung Quốc là nền
kinh tế
bùng nổ và một nước Nga kém
hiện đại
hóa đang già cỗi về
chính trị
. Nga là nạn nhân của sự chuyển hướng toàn cầu sang phương Đông bởi vì nước Nga không thể thích nghi với những đòi hỏi của
kỷ nguyên
hậu công nghiệp
và quan hệ đối tác cân bằng với Trung Quốc trở nên thiếu bền vững và nỗi lo ngại cũ về "mối đe dọa Trung Quốc" sẽ tái hiện.
65
Đối với Trung Quốc, Nga vẫn là một nguồn cung cấp
dầu khí
hữu ích, tuy kém quan trọng hơn nhiều so với
vùng Vịnh
và
châu Phi
Theo
Ngoại trưởng
Sergei Lavrov
, Nga cần phải xây dựng "liên minh
hiện đại hoá
" với các nước
châu Âu
để tiếp thu những công nghệ cần thiết và "cần tìm cơ hội khai thác tiềm năng
công nghệ
của
Mỹ
" khiến cho Mỹ hết sức cảnh giác. Nga coi
Đức
Pháp
và
Tây Ban Nha
là những đối tác gần gũi nhất của Nga ở châu Âu.
66
Trong khi Nga thường được công nhận rộng rãi là một cường quốc, trong những năm gần đây một số nhà lãnh đạo thế giới, học giả, các nhà bình luận và chính trị gia đã nhìn nhận về Nga như một siêu cường đang phục hồi hoặc một
siêu cường tiềm năng
dù họ đang bị tụt lùi hơn so với phía Trung Quốc.
67
68
69
70
71
72
Nhân quyền
Bài chi tiết:
Nhân quyền tại Nga
Nga và Phương Tây thường xuyên có những bất đồng xung quanh vấn đề
nhân quyền
tại Nga. Các nước Phương Tây cáo buộc chính phủ Nga đã nhiều lần có những hành động vi phạm nhân quyền (bao gồm cấm truyền bá về cộng đồng
LGBT
, hạn chế
tự do ngôn luận
và ám sát nhà báo có tư tưởng đối lập). Đặc biệt, các tổ chức như
Tổ chức Ân xá Quốc tế
(Hoa Kỳ) coi Nga là không có đủ các điều kiện của một nhà nước
dân chủ
và chỉ trích chính phủ Nga về việc hạn chế các quyền chính trị và tự do dân sự đối với công dân của mình.
73
Freedom House
, một tổ chức quốc tế được tài trợ bởi Hoa Kỳ, xếp Nga vào nhóm các nước "không tự do", đồng thời cáo buộc rằng các cuộc bầu cử ở Nga đã được dàn xếp một cách tinh vi
74
Tại
cuộc họp báo chung với Tổng thống George Bush năm 2005 ở Slovakia
, Tổng thống Nga Putin đã trả lời về các cáo buộc của phương Tây về vấn đề nhân quyền tại Nga. Ông cho rằng các quyền con người phải được áp dụng phù hợp với truyền thống văn hóa và quyền lợi quốc gia của Nga chứ không phải sự áp đặt từ phương Tây:
"Nước Nga đã đưa ra lựa chọn của mình theo hướng dân chủ. 14 năm trước, một cách độc lập, không bị bất cứ một sức ép nào từ bên ngoài, nó đã đưa ra quyết định đó trên cơ sở lợi ích của chính mình và lợi ích của người dân - những công dân của nó. Đó chính là lựa chọn cuối cùng của chúng tôi, và chúng tôi không có con đường quay trở lại.
Đầu tiên, chúng tôi không chuẩn bị tạo nên - sáng tạo bất kỳ một kiểu dân chủ đặc biệt nào của Nga; chúng tôi đang chuẩn bị đưa ra các nguyên tắc căn bản của một nền dân chủ từng được thành lập trên thế giới. Nhưng tất nhiên, tất cả các định chế dân chủ hiện đại - các nguyên tắc dân chủ phải tương xứng với tình trạng phát triển hiện tại của nước Nga, với lịch sử và truyền thống của chúng tôi.
Không hề có điều gì bất bình thường ở đây. Về hoạt động của các thể chế dân chủ chính, có thể có một số sự khác biệt, nhưng các nguyên tắc căn bản và nền tảng đang được áp dụng theo cách thức để chúng sẽ được phát triển bởi một xã hội hiện đại và văn minh...
Tôi tin rằng rất nhiều người sẽ đồng ý với tôi, việc áp dụng những nguyên tắc và tiêu chuẩn dân chủ không thể đi liên với sự sụp đổ quốc gia và sự nghèo đói của nhân dân."
Nga được xem như là một trong những quốc gia có thái độ phản đối gay gắt về vấn đề
đồng tính luyến ái
, với các cuộc thăm dò gần đây cho thấy đa số người Nga không chấp nhận đồng tính luyến ái và đã bày tỏ sự ủng hộ đối với những quy định pháp luật phân biệt đối xử chống lại người đồng tính.
75
Trong một cuộc thăm dò khác, 62,5% trong số 450 bác sĩ tâm thần được hỏi ý kiến ở Vùng Rostov coi đồng tính là một căn bệnh, và tới ba phần tư coi đó là hành vi vô đạo đức.
75
Mặc dù nhận được sự chỉ trích từ phương Tây đối với tình trạng phân biệt đối xử, tội phạm và bạo lực chống lại người đồng tính, các thành phố lớn của Nga như Moskva và Sankt Peterburg được cho là có một cộng đồng LGBT phát triển mạnh.
76
77
Năm 2013, nước Nga dưới thời Tổng thống Vladimir Putin đã ra bộ luật cấm mọi hình thức tuyên truyền về
đồng tính luyến ái
và
hôn nhân đồng tính
78
Bộ luật cấm những sự kiện cổ vũ cho người đồng tính, quy định việc cung cấp những thông tin
"tuyên truyền việc về đồng tính nữ, lưỡng tính và chuyển giới"
cho trẻ vị thành niên là phạm pháp, đồng thời các sự kiện cổ vũ cho quan hệ đồng tính cũng bị cấm. Đây là một nỗ lực nhằm tuyên dương những giá trị truyền thống của nước Nga và chống lại trào lưu cổ vũ
đồng tính luyến ái
, đòi hợp pháp hóa
hôn nhân đồng tính
đến từ các nước phương Tây, mà Chính phủ Nga tin rằng đang làm băng hoại giới trẻ và phá hủy nền tảng luân lý gia đình của nước Nga, khiến nước Nga suy yếu
79
88% người dân Nga được phỏng vấn đã bày tỏ ủng hộ đối với lệnh cấm
80
Tổng thống Putin cho biết chính sách cấm
đồng tính luyến ái
là vấn đề quan trọng cho việc duy trì dân số đất nước:
"Người châu Âu đang chết dần (do già hóa dân số)... và
hôn nhân đồng tính
không thể tạo ra trẻ em"
"chúng tôi có sự lựa chọn cho riêng chúng tôi (nước Nga), và chúng tôi đã làm thế vì đất nước của chúng tôi"
81
Bên cạnh đó, từ năm 2015, Chính quyền thành phố
Moskva
và quốc hội Nga đã đề ra
Ngày tình yêu gia đình
để tập hợp các chiến dịch tuyên truyền bảo vệ giá trị gia đình truyền thống, ngăn chặn sự truyền bá của các nhóm hoạt động đồng tính, các
tổ chức phi chính phủ
đòi hợp pháp hóa
hôn nhân đồng tính
82
Quân đội
Bài chi tiết:
Lực lượng Vũ trang Liên bang Nga
Binh sĩ Nga duyệt binh năm 2015
Nga thừa hưởng quyền kiểm soát các tài sản của Liên Xô ở nước ngoài và hầu hết các cơ sở chế tạo và ngành công nghiệp quốc phòng Liên Xô.
83
Quân đội Nga được chia thành
Các lực lượng lục quân
Hải quân
, và
Không quân
. Cũng có ba nhánh quân đội độc lập:
Các lực lượng tên lửa chiến lược
Các lực lượng quân sự không gian
, và
Quân nhảy dù
. Năm 2014, Nga có 845.000 quân chính quy.
Nga có
kho vũ khí hạt nhân
lớn nhất thế giới. Họ có hạm đội tàu ngầm tên lửa đạn đạo đứng thứ hai và là nước duy nhất ngoài Hoa Kỳ có một lực lượng
máy bay ném bom chiến lược
hiện đại.
84
Lực lượng
xe tăng
Nga lớn nhất thế giới, đồng thời có lực lượng không quân và hải quân hùng hậu đứng thứ 3 thế giới.
Nước này có một ngành
công nghiệp vũ khí
lớn và phát triển thừa kế từ Liên Xô, có thể sản xuất hầu hết các loại trang thiết bị quân sự với chỉ một số ít loại vũ khí phải nhập khẩu. Tuy nhiên việc thiếu kinh phí mua sắm khiến năm 2010, chỉ có khoảng 10% vũ khí trang bị của Nga là được chế tạo mới sau năm 1991, phần lớn các thiết bị còn lại được chế tạo từ thời Xô Viết.
85
Nga nằm trong top các quốc gia cung cấp vũ khí, chiếm 30% thị phần thế giới và có sản phẩm bán tới 80 quốc gia.
86
Mọi công dân nam của Nga từ 18–27 tuổi phải
đăng ký
thực hiện nghĩa vụ một năm trong các lực lượng vũ trang. Hiện nay, quân đội Nga đã trải qua một quá trình nâng cấp
thiết bị
lớn trị giá khoảng $200 tỷ trong giai đoạn 2006 đến 2015.
87
Bộ trưởng quốc phòng
Anatoliy Serdyukov
88
giám sát các cuộc cải cách lớn với mục đích chuyển đổi từ một quân đội tập trung đông đảo thành một lực lượng chuyên nghiệp nhỏ hơn.
89
Chính phủ Nga công bố ngân sách quốc phòng năm 2014 là 2,49 nghìn tỉ rub (tương đương 69,3 tỉ USD), lớn thứ 3 sau Mỹ và Trung Quốc. Ngân sách này sẽ tăng lên 3,03 nghìn tỉ rub (83,7 tỉ USD) năm 2015, 3,36 nghìn tỉ rub (93,9 tỉ USD) năm 2016.
90
Phân cấp hành chính
Bài chi tiết:
Phân cấp hành chính Nga
Các đơn vị hành chính của Liên bang Nga
Xem thêm
Vùng liên bang của Nga
федеральные округа
Chủ thể liên bang của Nga
федеральные субъекты
Nước cộng hòa thuộc Nga
федеральные республики
Tỉnh của Nga
федеральные области
Vùng của Nga
федеральные края
Tỉnh tự trị của Nga
автономная область
Khu tự trị của Nga
автономные округа
Thành phố liên bang của Nga
города федерального значения
).
Liên bang Nga là sự hợp thành của một lượng lớn các chủ thể hành chính cấp
liên bang
, tổng cộng là 83 đơn vị hợp thành (chủ thể) từ 01 Tháng Ba 2008 như vậy. Sáu loại đối tượng liên bang được phân biệt tại Nga có 22 nước
cộng hòa
trong phạm vi liên bang có mức độ tự trị cao trong phần lớn các vấn đề và chúng gần như tương ứng với khu vực sinh sống của các bộ tộc người thiểu số ở Nga. Phần còn lại của lãnh thổ bao gồm 9
vùng
krai
) và 46
tỉnh
oblast
), 3
thành phố trực thuộc trung ương
Moskva
Sankt-Peterburg
và
Sevastopol
), 1
tỉnh tự trị
avtonomnaya oblast
) và 4
khu tự trị
avtonomnyi okrug
).
Gần đây nhất, 8
vùng liên bang
lớn về diện tích (5 vùng ở châu Âu và 3 vùng ở châu Á) đã được bổ sung như một thể chế hành chính giữa các thể chế hành chính nói trên và cấp độ quốc gia.
Ngày 18 tháng ba 2014, Nga và Krym đã ký hiệp ước gia nhập của nước Cộng hoà Krym và
thành phố trực thuộc trung ương
Sevastopol ở Liên bang Nga của Tổng thống Putin với Quốc hội. Trong giai đoạn chuyển tiếp này sẽ kéo dài đến 01 Tháng 1 năm 2015, hai bên sẽ giải quyết các vấn đề hội nhập các đối tượng mới trong kinh tế, tài chính, tín dụng và hệ thống pháp luật của Liên bang Nga.
Phân cấp hành chính
của
Nga
Thành phố
trực thuộc liên bang
Moskva
St. Peterburg
Sevastopol
Tỉnh
Amur
Arkhangelsk
Astrakhan
Belgorod
Bryansk
Chelyabinsk
Irkutsk
Ivanovo
Kaliningrad
Kaluga
Kemerovo
Kherson
Kirov
Kostroma
Kurgan
Kursk
Leningrad
Lipetsk
Magadan
Moskva
Murmansk
Nizhny Novgorod
Novgorod
Novosibirsk
Omsk
Orenburg
Oryol
Penza
Pskov
Rostov
Ryazan
Sakhalin
Samara
Saratov
Smolensk
Sverdlovsk
Tambov
Tomsk
Tula
Tver
Tyumen
Ulyanovsk
Vladimir
Volgograd
Vologda
Voronezh
Yaroslavl
Zaporozhye
Vùng lãnh thổ
Altai
Kamchatka
Khabarovsk
Krasnodar
Krasnoyarsk
Perm
Primorsky
Stavropol
Zabaykalsky
Nước cộng hòa
Adygea
Altai
Bashkortostan
Buryatia
Chechnya
Chuvashia
Dagestan
Donetsk
Ingushetiya
Kabardino-Balkaria
Kalmykia
Karachay-Cherkessia
Kareliya
Khakassia
Komi
Krym
Lugansk
Mari
El
Mordovia
Bắc Ossetia-Alania
Sakha
Tatarstan
Tuva
Udmurtia
Khu tự trị
Chukotka
Khantia-Mansia
Nenetsia
Yamalia
Tỉnh tự trị
Do Thái
Ukraina
tuyên bố chủ quyền và hầu hết cộng đồng quốc tế nhìn nhận là bộ phận của Ukraina.
Địa lý
Bài chi tiết:
Địa lý Nga
Liên bang Nga trải dài trên phần phía bắc của siêu lục địa
Á - Âu
. Tuy rằng Nga chiếm phần lớn khu vực Bắc cực và cận Bắc cực nhưng có ít hơn về dân số, hoạt động kinh tế cũng như các sự đa dạng vật lý trên một đơn vị diện tích so với phần lớn các khu vực khác, phần lớn diện tích ở phía nam của khu vực này có phong cảnh và
khí hậu
đa dạng hơn. Phần lớn đất đai Nga là các đồng bằng rộng lớn, ở cả châu Âu và châu Á, được biết đến như là
Siberia
. Các đồng bằng này chủ yếu là
thảo nguyên
về phía nam và rừng rậm về phía bắc, với các
tundra
(lãnh nguyên) dọc theo bờ biển phía bắc. Các dãy núi chủ yếu nằm ở biên giới phía nam, chẳng hạn như
Kavkaz
(ở đây có đỉnh
Elbrus
, là điểm cao nhất thuộc Nga và châu Âu với cao độ 5,633 m) và
dãy núi Altai
, cũng như ở phần phía đông, chẳng hạn như
dãy Verkhoyansk
hoặc các
núi lửa
trên
Kamchatka
Dãy Ural
, là một dãy núi chạy theo hướng bắc - nam, tạo ra sự phân chia cơ bản giữa châu Âu và châu Á cũng là một dãy núi nổi tiếng.
Nga có đường bờ biển dài trên 37,000
km dọc theo
Bắc Băng Dương
và
Thái Bình Dương
91
cũng như dọc theo các biển mang tính trong nội địa ít hay nhiều như
biển Baltic
biển Đen
và
biển Caspi
. Một số các biển nhỏ hơn là các phần của các đại dương như
biển Barents
Bạch Hải
biển Kara
biển Laptev
và
biển Đông Siberi
là các phần của Bắc Băng Dương, trong khi các biển như
biển Bering
biển Okhotsk
và
biển Nhật Bản
thuộc về Thái Bình Dương. Các đảo chính bao gồm
Novaya Zemlya
mũi Franz-Josef
quần đảo Tân Siberi
đảo Wrangel
quần đảo Kuril
và
Sakhalin
Moskva
Sankt.
Peterburg
Novgorod
Novosibirsk
Yekaterinburg
Nizhny
Novgorod
Kazan
Chelyabinsk
Omsk
Samara
Rostov
Ufa
Krasnoyarsk
Perm
Voronezh
Volgograd
Arkhangelsk
Pyatigorsk
Sochi
Irkutsk
Yakutsk
Khabarovsk
Vladivostok
Magadan
Yuzhno-Sakhalinsk
Petropavlovsk-Kamchatsky
Kaliningrad
Bản đồ địa lý tự nhiên của Nga cùng với các vùng trên bản đồ. Chú thích:
Hình ngôi sao: thủ đô
Hình chấm tròn: các thành phố và thủ phủ các bang
Hình tam giác: các trung tâm hành chính.
Các hồ chính bao gồm
hồ Baikal
hồ Ladoga
biển hồ Caspi
và
hồ Onega
Biên giới
Cách thức thực tế phổ biến nhất để miêu tả nước Nga là miêu tả phần chính (phần tiếp giáp lớn với các quần đảo hay đảo ngoài biển của nó) và phần tách rời (khu vực
Kaliningrad
ở phía đông nam của
biển Baltic
).
Biên giới của phần chính và các bờ biển (bắt đầu từ phần xa nhất về phía tây bắc và tính ngược chiều kim đồng hồ) là:
Biên giới với các quốc gia sau:
Na Uy
và
Phần Lan
Bờ biển ngắn trên biển Baltic, tiếp giáp với 8 quốc gia khác trên biển này, từ Phần Lan tới
Estonia
và bao gồm cả
cảng St. Petersburg
Biên giới với
Estonia
Latvia
Belarus
và
Ukraina
Bờ biển trên biển Đen, tiếp giáp với 5 quốc gia khác từ Ukraina tới
Gruzia
Biên giới với
Gruzia
và
Azerbaijan
Bờ biển trên
biển Caspi
, tiếp giáp với 4 quốc gia khác từ Azerbaijan tới
Kazakhstan
Biên giới với Kazakhstan,
Trung Quốc
Mông Cổ
, Trung Quốc một lần nữa và
Bắc Triều Tiên
Đường bờ biển mở rộng cho phép đi lại và giao thương với tất cả các quốc gia có lãnh thổ biển trên toàn thế giới, và kéo dài
Từ bắc
Thái Bình Dương
bao gồm:
Biển Nhật Bản
(trong đó có bờ biển phía tây của
Sakhalin
thuộc Nga).
Biển Okhotsk
(trong đó có bờ biển phía đông của
Sakhalin
và
quần đảo Kuril
), và
Biển Bering
Dọc theo
eo biển Bering
(trong đó đảo thuộc Nga
Diomede Lớn
bị chia cắt chỉ vài dặm với
Diomede Nhỏ
, một phần thuộc
Alaska
của
Hoa Kỳ
),
Bắc Băng Dương
, bao gồm:
Biển Chukchi
(trong đó có bờ biển phía đông và nam của
đảo Wrangel
),
Biển Đông Siberi
(trong đó có bờ biển phía tây của Nga và bờ phía đông của
quần đảo Tân Siberi
),
Biển Laptev
(trong đó có bờ biển phía tây của Nga,
Biển Kara
(trong đó có bờ biển phía đông của
Novaya Zemlya
(Đất mới)),
Biển Barents
(trong đó có bờ biển phía tây của Nga, bờ biển phía nam của
Mũi Franz-Josef
và cảng
Murmansk
với các thiết chế hàng hải quan trọng nằm ở đó, ở đó
Bạch Hải
ăn sâu vào đất liền nhất).
Phần tách rời là
tỉnh Kaliningrad
, tỉnh này có:
Chung biên giới với:
Ba Lan
ở phía nam
Litva
về phía bắc và đông
Bờ biển phía tây bắc nhìn ra biển Baltic.
Các bờ biển thuộc các
biển Baltic
và
biển Đen
của Nga có đường giao lưu ra đại dương ít trực tiếp và rắm rối hơn so với các bờ biển thuộc Thái Bình Dương và Bắc Băng Dương, nhưng cả hai đều có vai trò quan trọng. Biển Baltic cho phép Nga có giao thương đường biển nhanh chóng với 9 quốc gia có chung bờ biển này cũng như giữa phần lục địa chính của Nga với tỉnh
Kaliningrad
. Thông qua eo biển nằm trong
Đan Mạch
, và giữa nó với
Thụy Điển
thì biển Baltic thông ra
biển Bắc
và
Đại Tây Dương
về phía tây và bắc của nó. Biển Đen cho phép Nga có giao thương đường biển nhanh chóng với 5 quốc gia khác có chung bờ biển, thông qua các eo biển
Dardanelles
và
Marmora
liền kề với
Istanbul
Thổ Nhĩ Kỳ
để nối vào
Địa Trung Hải
với nhiều quốc gia có bờ biển ở đó và thông qua
kênh đào Suez
để sang
Ấn Độ Dương
và
eo biển Gibraltar
để sang Đại Tây Dương.
Biển Caspi
, hồ nước mặn lớn nhất thế giới, không có đường giao thông với biển cả.
Phạm vi không gian
Hai điểm xa nhau nhất tại Nga cách nhau khoảng 8,000
km trên
đường trắc địa
geodesic
). Một trong hai điểm này nằm trên biên giới với
Ba Lan
, trên một khoảng đất dài 60
km chia
vịnh Gdańsk
với
phá Vistula
. Còn điểm kia nằm tại cực đông - nam của quần đảo Kuril, chỉ vài dặm cạnh
đảo Hokkaido
của Nhật Bản.
Để diễn tả sự to lớn này, người ta thường nói là Nga bao trùm 11
múi giờ
. Tuy nhiên, sự diễn tả này có thể gây nhầm lẫn vì hai điểm xa nhau nhất nếu tính theo
kinh tuyến
chỉ cách nhau 6,600
km trên đường trắc địa. Một trong hai điểm này nằm trên biên giới với Ba Lan (nói bên trên); còn điểm kia nằm trên
đảo Diomede Lớn
đảo Ratmanova
). Và hơn nữa,
chính phủ Nga
đã quyết định giảm số múi giờ từ 11 xuống 9, thậm chí là 5 để phát triển kinh tế.
92
Khí hậu
Bài chi tiết:
Khí hậu Nga
Các kiểu khí hậu
Köppen
của Nga
Khí hậu Liên bang Nga được hình thành dưới ảnh hưởng của nhiều yếu tố xác định. Diện tích to lớn của đất nước và sự xa tách khỏi biển của nhiều vùng dẫn tới một kiểu
khí hậu lục địa ẩm
và
cận Bắc Cực
, là kiểu khí hậu phổ biến ở châu Âu và vùng châu Á của Nga ngoại trừ lãnh nguyên và vùng cực đông nam. Các dãy núi ở phía nam ngăn chặn các khối không khí ấm từ
Ấn Độ Dương
, trong khi đồng bằng phía tây và phía bắc khiến nước này mở rộng với những ảnh hưởng từ
Bắc Cực
và
Đại Tây Dương
93
Trên hầu khắp lãnh thổ chỉ có hai mùa riêng biệt mùa đông và mùa hè, mùa xuân và mùa thu thường chỉ là những giai đoạn thay đổi ngắn giữa thời tiết cực thấp và cực cao.
93
Tháng lạnh nhất là tháng 1 (tháng 2 trên bờ biển), tháng ấm nhất thường vào tháng 7. Sự chênh lệch nhiệt độ lớn là điều thông thường. Vào mùa đông, nhiệt độ lạnh đi cả từ phía nam tới phía bắc và từ phía tây tới phía đông. Mùa hè có thể khá nóng và ẩm, thậm chí tại
Siberia
. Một phần nhỏ của bờ
Biển Đen
quanh
Sochi
có
khí hậu cận nhiệt đới
94
Những vùng nội địa là những nơi khô nhất.
Động thực vật
Bài chi tiết:
Danh sách các vùng sinh thái tại nga
Danh sách các loại thú có vú của Nga
, và
Danh sách các loại chim của Nga
Kamchatka
là một loài
gấu nâu
sinh sống phổ biến ở Nga và được coi là
biểu tượng truyền thông về mặt hình ảnh
của quốc gia này.
Từ bắc xuống nam
đồng bằng Đông Âu
, cũng được gọi là
đồng bằng Nga
, bị bao phủ trong
lãnh nguyên
Bắc Cực, những cánh rừng lá kim (
taiga
), những cánh rừng hỗn giao, đồng cỏ (
thảo nguyên
) và bán hoang mạc (bao quanh
Biển Caspian
), bởi những thay đổi trong thực vật phản ánh những thay đổi trong khí hậu.
Siberia
cũng có một mô hình tương tự nhưng chủ yếu là
taiga
Nga có
trữ lượng rừng
lớn nhất thế giới,
95
được gọi là
"lá phổi của châu Âu"
96
đứng thứ hai chỉ sau
rừng mưa Amazon
về khối lượng hấp thụ
CO
. Những cánh rừng Nga sản xuất ra một khối lượng lớn
oxy
không chỉ cho châu Âu mà cho toàn thế giới.
Có 266 loài có vú và 780 loài chim tại Nga. Tổng cộng 415 loài thú đã được đưa vào Sách Đỏ Nga vào năm 1997,
97
và hiện đang được bảo vệ.
Kinh tế
Bài chi tiết:
Kinh tế Nga
Trung tâm kinh doanh quốc tế Moskva
Nga có một nền kinh tế hỗn hợp có thu nhập trung bình cao với nguồn tài nguyên thiên nhiên khổng lồ, đặc biệt là dầu mỏ và khí tự nhiên. Quốc gia này có diện tích lớn nhất trên thế giới và là nhà sản xuất dầu lửa lớn nhất, vào năm 2016 kinh tế Nga đứng hàng thứ 13 trên thế giới và đứng thứ 5
châu Âu
theo GDP danh nghĩa hoặc đứng thứ 6 trên thế giới và đứng thứ 2
châu Âu
theo GDP theo sức mua tương đương (~3.300 tỷ USD năm 2016).
98
Hơn hai thập kỷ sau sự
sụp đổ của Liên Xô
năm
1991
, Nga vẫn còn đang cố gắng để thiết lập một nền
kinh tế thị trường
và để thu được sự phát triển kinh tế bền vững. Trong 5 năm đầu nền kinh tế Nga đã phát triển không ổn định do các cơ quan
hành pháp
và
lập pháp
còn nhiều bất đồng trong việc hoàn thiện công cuộc cải cách và các nền tảng công nghiệp của Nga chịu sự suy thoái nặng nề. Ngoài ra, sự thiếu hụt thực phẩm năm 1997, mà hậu quả của nó là đã phải cần đến sự trợ giúp quốc tế trên bình diện rộng, đã làm tổn thương nghiêm trọng lòng tự hào cũng như nền kinh tế nói chung của nước Nga mới ra đời.
Tuy thế, mặc dù không hiệu quả trong điều kiện kinh tế thị trường và khẩu vị của người tiêu dùng nhưng nền kinh tế cựu Xô viết nói chung đã được chấp nhận là đã tạo cho người dân Nga nói chung có mức sống tiêu chuẩn kể từ sau những năm giữa
thập niên 1950
cao hơn so với công dân của nhiều quốc gia đã phát triển theo định hướng tư bản và kinh tế thị trường như
México
Brasil
Ấn Độ
và
Argentina
. Tuy thế, các chủng loại hàng tiêu dùng (cụ thể là quần áo và lương thực, thực phẩm) là tương đối đơn giản về mẫu mã, và sự thiếu hụt của hàng tiêu dùng trong gia đình đã bị kêu ca nhiều ở các khu vực thành thị.
Sau sự tan rã của Liên Xô, sự phục hồi nhỏ của Nga dưới ảnh hưởng của kinh tế thị trường lần đầu tiên diễn ra vào khoảng năm
1997
. Trong năm đó, cuộc
khủng hoảng tài chính châu Á
đã lên đến điểm đỉnh trong việc phá giá của đồng
rúp
vào tháng 8 năm
1998
, làm cho chính phủ bị
vỡ nợ
và làm suy giảm trầm trọng mức sống tiêu chuẩn của phần lớn dân chúng. Vì thế, năm 1998 cũng đã được ghi nhận như là năm của suy thoái và sự tăng cường rút vốn ra khỏi nền kinh tế.
Tuy nhiên, nền kinh tế Nga đã phục hồi vừa phải trong năm 1999. Kinh tế Nga đã đi vào trong giai đoạn phát triển nhanh,
GDP
tăng trưởng trung bình 6,8% trên năm trong giai đoạn
1999
2004
trên cơ sở của giá
dầu mỏ
cao, đồng rúp yếu, và tăng trưởng của các ngành công nghiệp và dịch vụ. Nhưng sự phát triển kinh tế này là không đều: khu vực thủ đô Moskva cung cấp tới 30% GDP của toàn quốc.
Sự phục hồi kinh tế này cùng với cố gắng cải tổ của chính quyền trong các năm
2000
2001
để thúc đẩy cải cách về cấu trúc đang bị thụt lùi, đã làm tăng sự tin cậy của các nhà kinh doanh và đầu tư về triển vọng của nền kinh tế Nga trong thập niên thứ hai của thời kỳ chuyển đổi. Nga vẫn dựa chủ yếu vào xuất khẩu hàng hóa, cụ thể là dầu mỏ,
khí đốt
, kim loại và
gỗ
, các mặt hàng này chiếm trên 80% kim ngạch xuất khẩu, điều này làm cho Nga dễ bị thương tổn vì các biến động giá cả trên thị trường quốc tế. Trong những năm gần đây, nền kinh tế Nga đã nhắm nhiều hơn vào nhu cầu về các mặt hàng tiêu dùng trong nước, là lĩnh vực có mức tăng trưởng trên 12% mỗi năm trong giai đoạn 2000-2004, chỉ ra sự lớn mạnh dần lên của thị trường nội địa. Những năm tiếp theo, tiêu thụ nội địa cao hơn và nền chính trị ổn định hơn đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Nga. Từ 1999-2008 kinh tế nước Nga đã liên tục có tăng trưởng mạnh mẽ, nhưng tăng trưởng đã chậm lại ở vài năm sau đó với sự suy giảm của giá dầu và khí đốt.
Với việc
Hoa Kỳ
Liên minh châu Âu
và các quốc gia khác áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với Nga sau sự kiện Nga sáp nhập
Crimea
bất hợp pháp vào năm 2014 cùng với sự sụt giảm mạnh của giá dầu trong năm đó, nền kinh tế Nga đã lâm vào một cuộc
khủng hoảng tài chính
sâu sắc.
99
100
Cuộc khủng hoảng này đã ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế Nga, bao gồm cả người tiêu dùng và các công ty, cũng như có một tác động tiêu cực đến thị trường tài chính toàn cầu. Thực tế đã cho thấy, chính người dân Nga đang phải đối mặt với nhiều khó khăn do tác động của cuộc khủng hoảng này mang lại. Lệnh cấm vận của Phương Tây cũng đã ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất và tiêu dùng của Nga. Việc giá cả sẽ tăng do tình trạng thiếu hụt và lạm phát tăng, dẫn đến tiết kiệm giảm, tiền lương giảm và thất nghiệp gia tăng, hệ quả là chất lượng cuộc sống của người dân Nga giảm sút, đặc biệt là các gia đình trung lưu và những người Nga nghèo. Vào năm 2016, mức lương trung bình của người Nga chỉ là 450 $ một tháng (so với mức 967$ một tháng vào năm 2013), thấp hơn cả
Trung Quốc
và
Ba Lan
101
Tỉ lệ người sống dưới mức nghèo ở Nga đang có chiều hướng gia tăng, từ 16.1 triệu người năm 2015 đã nhảy vọt lên con số 19.2 triệu người năm 2016.
102
Đổng rúp của Nga cũng liên tục mất giá. Tính đến tháng 3 năm 2016, giá trị của đồng rúp chỉ còn bằng 50% so với thời điểm tháng 7 năm 2014.
103
Năm 2016, GDP của Nga đạt 3.300 tỷ USD theo
sức mua tương đương
, làm cho Nga trở thành nền kinh tế lớn thứ 6 trên thế giới và thứ 2 ở châu Âu.
98
Năm 2021, GDP của Nga đạt 4.020 tỷ USD theo
sức mua tương đương
, vẫn là nền kinh tế lớn thứ 6 trên thế giới và thứ 2 ở châu Âu.
Thách thức lớn nhất đối với Nga là các biện pháp để thúc đẩy sự phát triển của các
xí nghiệp nhỏ và vừa
(SME) trong điều kiện môi trường kinh doanh với hệ thống ngân hàng trẻ và khác thường, được nắm giữ bởi các
tài phiệt Nga
oligarkhi
). Nhiều ngân hàng Nga là sở hữu của các nhà doanh nghiệp hay các ông trùm, là những người thông thường sử dụng các khoản tiền gửi ở ngân hàng để cho các doanh nghiệp của chính mình vay mượn.
Ngân hàng tái thiết và phát triển châu Âu
(EBRD) và
Ngân hàng thế giới
(WB) đã có những cố gắng để kích hoạt khởi động các hoạt động ngân hàng thông thường bằng cách cấp vốn và mua lại các khoản nợ trong một số ngân hàng nhưng thành tựu thu được là không đáng kể.
Các vấn đề khác bao gồm sự phát triển mất cân bằng giữa các khu vực của Nga. Trong khi khu vực thủ đô Moskva là hối hả, có cuộc sống thịnh vượng với
thu nhập trên đầu người
nhanh chóng đạt tới mức của các nền kinh tế hàng đầu châu Âu thì phần lớn các khu vực còn lại, đặc biệt là ở các vùng nông thôn và khu vực của người thiểu số ở châu Á, đã bị tụt lại đằng sau rất nhiều. Sự phân hóa thời kinh tế thị trường cũng cảm nhận được ở các thành phố lớn khác như
Sankt-Peterburg
Kaliningrad
và
Ekaterinburg
Thúc đẩy đầu tư nước ngoài cũng là một thách thức lớn. Ngoài ra, Nga cũng được hưởng lợi từ việc tăng giá dầu mỏ và vì thế có khả năng thanh toán các khoản nợ khổng lồ cũ. Sự phân bổ công bằng các thu nhập từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên này từ công nghiệp cho các lĩnh vực khác cũng là một vấn đề. Việc định hướng cho người tiêu dùng và thúc đẩy chi tiêu vào hàng tiêu dùng là một việc khá khó khăn đối với nhiều khu vực ở các
nông thôn
, khi mà ở các khu vực này nhu cầu tiêu dùng rất đơn giản, mặc dù đã có nhiều tiến bộ đáng khen ngợi đã được thực hiện ở các thành phố lớn, đặc biệt là trong các lĩnh vực như may mặc, lương thực, thực phẩm, công nghiệp giải trí.
Việc bắt giữ nhà kinh doanh giàu có nhất Nga khi đó là
Mikhail Khodorkovsky
với các tội quy kết là gian lận và tham nhũng trong quá trình tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn dưới thời tổng thống
Boris Yeltsin
đã làm cho nhiều nhà đầu tư nước ngoài e ngại về tính ổn định của nền kinh tế Nga. Phần lớn những người giàu có nhất ở Nga hiện nay là nhờ việc mua bán các doanh nghiệp nhà nước khi đó với giá rẻ như bèo. Các quốc gia khác cũng bày tỏ sự e ngại và lo lắng với việc áp dụng "có lựa chọn" của luật pháp đối với các doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, một số tập đoàn quốc tế đã đầu tư rất lớn vào Nga. Theo
Quỹ tiền tệ quốc tế
(IMF), Nga có khoảng 26 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp tích lũy của người nước ngoài trong giai đoạn 2001-2004 (trong đó 11,7 tỷ USD diễn ra trong năm 2004).
Tuy nhiên, chính phủ của ông Putin đã bị chỉ trích rằng đã không tạo ra được một môi trường kinh doanh thân thiện, không đẩy lùi được nạn tham nhũng và không gia tăng đầu tư vào các lĩnh vực có thể đưa nền kinh tế Nga bớt phụ thuộc vào việc xuất khẩu
năng lượng
. Khu vực
dầu mỏ
và
khí đốt
của Nga chiếm tới gần 25% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và khoảng 30% tổng thu nhập ngân sách quốc gia.
Trong giai đoan 2000-2009, mức tăng trưởng trung bình hằng năm của nền kinh tế Nga đạt 5%; trong giai đoạn 2010-2019, mức tăng trưởng trung bình hằng năm sụt giảm còn 1,8%, trong đó năm 2015 và 2016 đều trải qua suy thoái. Sau năm 2015, mức tăng trưởng trung bình hằng năm của Nga giảm xuống còn 0,4%.
104
Vì những nguyên nhân nói trên, Nga đã chuyển từ một điểm đến đầu tư tốt nhất thế giới trong giai đoạn 2000-2009 thành một nước có rủi ro cao và thiếu sức hấp dẫn. Lý do chính cho sự kém hiệu quả của nền kinh tế Nga trong giai đoạn 2010-2019 là do các động lực tăng trưởng của thập kỷ trước đã cạn kiệt nhưng chính phủ Nga lại lựa chọn tăng quỹ dự trữ thay vì nâng cao hiệu quả kinh tế.
104
Các nhà kinh tế chỉ ra một vấn đề của Nga là việc chủ yếu vẫn phụ thuộc vào nguyên liệu thô như những năm 2000, khiến giá cả thị trường phụ thuộc vào biến động của thế giới. Chính quyền Putin đã nhiều lần hứa sẽ biến đổi đất nước từ đơn giản là một nhà xuất khẩu nguyên liệu thô sang một quốc gia đa dạng hơn, dựa trên các sản phẩm và dịch vụ công nghệ cao, nhưng chưa cho thấy hiệu quả.
105
Nông nghiệp và lâm nghiệp
Thu hoạch nông nghiệp ở Nga
Tổng diện tích đất canh tác của Nga ước tính là 1.237.294
km vuông (477.722 sq mi), lớn thứ tư trên thế giới.
106
Từ năm 1999 đến năm 2009, nông nghiệp của Nga tăng trưởng đều đặn,
107
và đất nước chuyển từ một nước phải nhập khẩu ngũ cốc trở thành nước xuất khẩu ngũ cốc lớn thứ ba thế giới sau
EU
và
Hoa Kỳ
108
Sản lượng thịt đã tăng từ 6,813.000 tấn năm 1999 lên 9.331.000 tấn trong năm 2008 và vẫn tiếp tục tăng.
109
Trong khi các trang trại lớn tập trung chủ yếu vào sản xuất ngũ cốc và các sản phẩm chăn nuôi như sữa hay trứng, các hộ gia đình tư nhân nhỏ đã sản xuất hầu hết lượng khoai tây, rau và trái cây của cả nước.
110
Nga hiện là nước sản xuất
lúa mạch
kiều mạch
và
yến mạch
đứng đầu thế giới cũng như là một trong những nhà sản xuất và xuất khẩu
lúa mạch đen
hạt hướng dương
và
lúa mì
lớn nhất thế giới.
Trải dài từ biển Baltic đến Thái Bình Dương, Nga là quốc gia có diện tích rừng lớn nhất thế giới, chiếm 1/5 diện tích rừng của thế giới.
111
112
Tuy nhiên, theo một nghiên cứu năm 2012 bởi Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của
Liên hợp quốc
và Chính phủ Liên bang Nga, tiềm năng to lớn này vẫn chưa được khai thác đúng mức.
113
Nga hiện nay đã trở thành nước dẫn đầu thế giới về tình trạng phá rừng. Hàng loạt nhà máy gỗ của Trung Quốc mọc lên ở Nga mang tới việc làm và thu nhập nhưng đi kèm là nỗi lo tài nguyên rừng bị khai thác quá đà. Dù khai thác ồ ạt tại Nga, tất cả những dây chuyền sản xuất gỗ thành phẩm đều được thực hiện ở Trung Quốc, nơi đang hạn chế chặt chẽ việc khai thác gỗ nhằm bảo tồn rừng.
114
Vấn nạn phá rừng đã tồn tại từ nhiều năm nay và ngày càng khó kiểm soát. Từ năm 2000 đến nay, tổng diện tích rừng bị phá là 40 triệu ha, nhưng chỉ có một nửa diện tích được trồng lại. Rừng bị tàn phá mạnh tại các vùng Viễn Đông, phía Tây Bắc và Siberia. Nạn phá rừng không chỉ gây thiệt hại về kinh tế, mà còn ảnh hưởng lớn đến môi trường và tàn phá các hệ sinh thái, làm tăng khí thải gây hiệu ứng nhà kính... Ngoài ra, diện tích rừng bị suy giảm do các nguyên nhân khác như cháy rừng, phát triển công nghiệp và khai thác khoáng sản cùng với việc mở rộng diện tích đất nông nghiệp, xây dựng nhà ở và giao thông.
115
Công nghiệp
Công nhân kỹ thuật sản xuất bên trong nhà máy hóa chất OAO Novosibirsk.
Nga được thừa hưởng nền tảng công nghiệp rất mạnh của
Liên Xô
, siêu cường công nghiệp đứng thứ 2 thế giới. Sau khi Liên Xô tan rã, khoảng 60% các cơ sở công nghiệp của Liên Xô thuộc về lãnh thổ Nga, các cơ sở này đảm bảo duy trì được vị thế cường quốc công nghiệp của Nga trên thế giới.
Tuy nhiên, giai đoạn kinh tế trì trệ thập niên 1990 khiến các cơ sở công nghiệp của Nga bị suy yếu đi nhiều. Theo kết quả khảo sát 2013 do Trung tâm nghiên cứu vĩ mô (CMR) của ngân hàng
Sberbank
của Nga công bố thì nền tảng công nghiệp Nga đang bị lão hóa. Gần 60% các xí nghiệp Nga cần nâng cấp trang thiết bị trong vòng 3 năm tới để duy trì hoạt động cũng như thị phần nội địa. Các mặt hàng công nghiệp nhẹ của Nga có
sức cạnh tranh
trên
thị trường thế giới
tương đối yếu trong
tương lai
gần. Có tới 36% xí nghiệp được hỏi ý kiến cho biết họ không có kế hoạch mở rộng sản xuất trong vòng 5 năm tới; 38% nói có lẽ họ sẽ mở rộng trên
thị trường nội địa
; 19% nhắm vào các thị trường gần là các nước thành viên Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS) và chỉ có 9% có kế hoạch mở rộng kinh doanh ra thị trường thế giới trong dài hạn. Gần 83%
xí nghiệp
Nga được hỏi ý kiến nói họ chỉ có thể bán sản phẩm trên thị trường trong nước, trong khi 88% nói nguồn cung chủ yếu cho xí nghiệp về
nguyên liệu
và thiết bị là nguồn cung nội địa.
116
Theo Phó Bộ trưởng Công nghiệp và Thương mại Nga Sergei Tsyb thì lĩnh vực công cụ máy móc công nghiệp Nga đang nhập khẩu lên tới 90%, kỹ thuật máy hạng nặng đang nhập khẩu khoảng từ 60-80% và ngành công nghiệp điện tử nhập khẩu từ 80-90%. Để giảm sự phụ thuộc của Nga vào các nhà cung cấp phương Tây trong hầu hết các ngành công nghiệp quan trọng như trên, Nga dự kiến sẽ giảm chỉ số nhập khẩu từ 70-90% xuống còn 50-60% vào năm 2020 nhưng việc thay thế hoàn toàn việc nhập khẩu là điều không thể.
117
Trong thời
Chiến tranh Lạnh
, các
tổ hợp công nghiệp
của
Liên Xô
đảm bảo duy trì nền quân sự Xô viết mạnh mẽ với nguồn ngân sách thường chiếm từ 10-20% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Liên Xô.
Công nghiệp vũ khí
của Nga là khu vực hiện đại nhất và nằm trong định hướng xuất khẩu của Nga. Xuất khẩu vũ khí của Nga luôn giữ vị trí thứ 2 trên thế giới về giá trị.
Nếu như tại Mỹ, các tổ hợp công nghiệp quốc phòng và các dự án vũ trụ tập trung vào một số tập đoàn khổng lồ độc quyền và một hệ thống dịch vụ hậu cần làm việc dưới sự chỉ đạo của Bộ quốc phòng và
NASA
thì nền công nghiệp quốc phòng Nga hiện nay phân tán thành rất nhiều các
xí nghiệp
nhỏ. Với một chu trình sản xuất cồng kềnh và nhiều tầng nấc như vậy khó có thể đạt được một kết quả tích cực và đột phá nào trong ngành công nghiệp quốc phòng vì mâu thuẫn lợi ích của rất nhiều thành viên tham gia vào chu trình sản xuất đó.
118
Độ tuổi trung bình của những người đang làm việc trong các tổ hợp công nghiệp quốc phòng Nga là từ 55 đến 57 (số liệu tháng 5/2013). 30% trong số đó đã ngoài 60 trong khi giới trẻ không chịu vào làm việc vì lương thấp. Để khắc phục những vấn đề này, hiện nay, Nga đang tiến hành sáp nhập các nhà máy quốc phòng thành các tổ hợp lớn hơn để khắc phục những điểm yếu trên và nâng cao sức cạnh tranh.
cần dẫn nguồn
Nước Nga hiện nay được thừa hưởng từ chế độ Xô Viết ba nhóm công nghiệp cơ bản với khả năng cạnh tranh cực cao là các tổ hợp công nghiệp - quốc phòng, ngành
công nghệ vũ trụ
và chế tạo máy và trang thiết bị
công nghệ hạt nhân
. Các tổ hợp công nghiệp - quốc phòng và công nghiệp vũ trụ, trong vòng 20 năm từng lâm vào tình trạng suy thoái. Các kỹ sư của các xí ngiệp công nghiệp quốc phòng Nga lớn nhất phải thực tập ở 5 trung tâm công nghệ ở
và
Đức
119
Tuy nhiên với sự quan tâm và rót ngân sách từ chính phủ, hiện nay các ngành này đang phát triển trở lại
cần dẫn nguồn
. Từ sau khi Mỹ ngừng sử dụng tàu con thoi năm 2010, Nga là nước duy nhất có thể tự tiến hành việc phóng tên lửa lên vũ trụ để vận chuyển hàng cho trạm vũ trụ quốc tế ISS. Để thay thế tàu con thoi cũ, tên lửa SpaceX của Mỹ đã 9 lần phóng thành công lên quỹ đạo, mục tiêu là có thể tái sử dụng nhiều lần,
120
tuy nhiên SpaceX mới hạ cánh thành công 2 lần và đến cuối 2016 mới thử nghiệm sử dụng tên lửa tái chế. Còn từ đây đến năm 2022, Mỹ vẫn sẽ phải mua 18 động cơ tên lửa RD-180 của Nga để đưa hàng lên vũ trụ.
121
Nga còn thành lập các công ty ở phương Tây để bí mật thu mua, đặt hàng các linh kiện điện tử từ các nhà sản xuất Mỹ rồi đem về đóng gói và xuất chúng sang cho các công ty ở Nga. Các linh kiện này dùng cho
Bộ Quốc phòng Nga
Tổng cục An ninh Liên bang Nga
(FSB) và ngay cả các pháp nhân Nga liên quan đến việc thiết kế vũ khí và đầu đạn
hạt nhân
. Đặc vụ FBI nói rằng hoạt động này đã hủy hoại đáng kể an ninh quốc gia của Mỹ bằng việc thu mua các linh kiện điện tử tối tân, kỹ thuật cao và đưa lậu chúng đến Nga, từ đó các linh kiện điện tử này giúp nâng cao năng lực của cơ quan tình báo Nga, góp phần hiện đại hóa cả quân đội và chương trình
vũ khí hạt nhân
của Nga.
122
Được biết, linh kiện điện tử mà công ty Nga mỗi năm mua của Mỹ trị giá khoảng 2 tỷ USD.
Khi Nga bị phương Tây áp đặt lệnh trừng phạt do can thiệp vào cuộc khủng hoảng tại Ukraina thì doanh nghiệp quân sự và hàng không vũ trụ của họ phải lập kế hoạch chuyển sang những đối tác mới. Các công ty này đã mua nhiều linh kiện điện tử với tổng trị giá hàng tỷ USD từ Trung Quốc.
123
Tuy trình độ của Trung Quốc không phải là cao nhất thế giới, nhưng hệ thống sản xuất của nước này rất hoàn chỉnh, khả năng tự cung tự cấp rất mạnh và luôn liên tục phát triển. Hợp tác quy mô lớn với doanh nghiệp sản xuất Trung Quốc trong lĩnh vực vi điện tử sẽ là bước đầu tiên trong việc hình thành liên minh công nghệ quốc gia BRICS. Với việc Trung Quốc sử dụng hệ thống nghiên cứu sản xuất linh kiện hiện có và kho nhân tài công nghệ, còn Nga phát huy những ưu thế có được trong các dự án nghiên cứu hàng chục năm qua, sự hợp tác công nghệ cao giữa 2 nước có thể phá vỡ được ưu thế của phương Tây trong lĩnh vực linh kiện điện tử. Ngay cả tên lửa đẩy siêu cấp Angara mà Nga đang nghiên cứu cũng có thể đang sử dụng linh kiện nước ngoài, vì vậy một khi phương Tây ngừng cung cấp cho Nga thì Nga có thể chuyển sang mua từ Trung Quốc.
124
Tuy Trung Quốc có thể giúp Nga giải quyết nhiều vấn đề nhưng không thể giải quyết toàn bộ vấn đề được. Một là tính năng sản phẩm liệu có thể có thể thay thế hoàn toàn sản phẩm tương tự của phương Tây, 2 là chủng loại liệu có đủ hoàn toàn, 3 là linh kiện mới có thể vẫn cần một thời gian hoạt động với nền tảng của Nga. Tuy nhiên, việc mua linh kiện điện tử từ Trung Quốc có một chút lợi thế, một là cung ứng đảm bảo, hai là giá sẽ tương đối ưu đãi.
Sau khi Liên Xô giải thể rất khó nhìn thấy những thương hiệu công nghiệp dân dụng của Nga, thậm chí thương hiệu công nghiệp nhẹ cũng không có. Lĩnh vực có thể thấy hàng Nga phổ biến là thương hiệu Vodka và các sản phẩm quân sự.
125
Năng lượng
Bài chi tiết:
Năng lượng tại Nga
và
Năng lượng hạt nhân tại Nga
Bên trong Viện Vật lý năng lượng tại thành phố Protvino.
Nga được thừa nhận là một
siêu cường năng lượng
Nga là một trong các quốc gia có sản lượng khí đốt hàng đầu thế giới
trữ lượng dầu mỏ
đứng thứ tám, thứ hai về
trữ lượng than
Nga là
nhà xuất khẩu khí tự nhiên
và
nhà sản xuất khí tự nhiên
hàng đầu thế giới, dù thỉnh thoảng Nga và
Ả Rập Xê Út
thay đổi vị trí về tiêu chí.
Châu Âu
hiện nhập khẩu đến 1/3 nhu cầu khí đốt từ Nga, mặc dù thời gian qua châu lục này đã cố gắng giảm phụ thuộc vào năng lượng của Nga.
Hoa Kỳ
đã tăng nguồn cung cấp
khí đốt
cho
châu Âu
. Tuy nhiên, hiện nay chỉ có 6% lượng nhập khẩu khí đốt của
châu Âu
là tới từ
Hoa Kỳ
. Sự phụ thuộc vào nguồn khí đốt của Nga ở
châu Âu
vẫn rất lớn. Ở
Italy
, khí đốt Nga chiếm 37% lượng nhập khẩu. Ở
Đức
tỉ lệ này khoảng 28%. Sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng nhập khẩu của
Slovenia
Hy Lạp
và
Hungary
ở mức từ 41-45%. Không có
khí đốt
của Nga, họ sẽ đối mặt với tình trạng thiếu hụt nhiên liệu nghiêm trọng sau khoảng 10 ngày. Đặc biệt là
Cộng hòa Séc
Slovakia
Phần Lan
Litva
Latvia
Estonia
gần như phụ thuộc 100% vào
khí đốt
Nga.
126
Mặt khác kinh tế Nga cũng lệ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu nhiên liệu hóa thạch và năng lượng, chiếm tới 64% tổng kim ngạch xuất khẩu của Nga. Ngành dầu khí chiếm đến 46% tổng chi tiêu của chính phủ Nga và đóng góp tới 30% GDP của nước này.
127
Nga là
nước sản xuất điện hàng thứ 4 thế giới
và
nhà sản xuất năng lượng tái tạo hàng thứ 5 thế giới
, tiêu chí sau nhờ nước này đã phát triển mạnh việc sản xuất
thủy điện
. Những
nhà máy thủy điện
lớn đã được xây dựng ở
vùng châu Âu của Nga
dọc theo các con sông như
Volga
. Vùng
châu Á
của Nga cũng có một số
nhà máy thủy điện
lớn, tuy nhiên, tiềm năng
thủy điện
vĩ đại của
Siberia
và
Viễn Đông Nga
phần lớn vẫn chưa được khai thác.
Nga là nước đầu tiên phát triển
lò phản ứng hạt nhân
dân sự và xây dựng
nhà máy điện hạt nhân đầu tiên
. Hiện tại, Nga là
nhà sản xuất điện hạt nhân đứng thứ 4
Rosatom
quản lý toàn bộ
các nhà máy điện hạt nhân tại Nga
. Năng lượng hạt nhân đang phát triển nhanh chóng tại Nga, với mục tiêu tăng tổng thành phần năng lượng hạt nhân từ mức 16.9% hiện nay lên 23% vào năm 2020. Chính phủ Nga có kế hoạch chi 127 tỷ rubles ($5.42 triệu) cho một chương trình liên bang để phát triển việc sản xuất năng lượng hạt nhân thế hệ tiếp theo. Khoảng 1 nghìn tỷ ruble ($42.7 triệu) đã được chi từ ngân sách liên bang cho việc phát triển năng lượng hạt nhân và phát triển công nghiệp trước năm 2015.
128
Nga vẫn là một trong những nước đứng đầu thế giới về
công nghệ hạt nhân
và là một thành viên của dự án
lò phản ứng hạt nhân
quốc tế.
Gazprom
, gã khổng lồ khí đốt của Nga đã phải vật lộn để tìm công nghệ cho mỏ ngoài khơi Nam Kirinskoye ở
Viễn Đông
sau khi các lệnh trừng phạt của
Mỹ
cấm bất kỳ công ty Mỹ nào cung cấp thiết bị dưới đáy biển. Việc phát triển thêm các dự án khí đốt tự nhiên hóa lỏng đặc biệt dễ bị tổn thương vì Nga thiếu hầu hết các bí quyết, bao gồm cả công nghệ hóa lỏng thương mại quy mô lớn.
129
Mặc dù các nhà sản xuất dầu trong nước đang theo đuổi chiến lược thay thế nhập khẩu thông qua các trung tâm nghiên cứu và phát triển trong nước nhưng việc phát triển các công nghệ khả thi về mặt thương mại và sản xuất nội địa hóa đầy đủ các thiết bị cần thiết có thể sẽ mất nhiều năm.
Bộ năng lượng Nga
cảnh báo Nga đã tiếp tục lập kỷ lục sản xuất dầu thời hậu Xô Viết nhưng các quan chức lo ngại sẽ sụt giảm tới 40% trong vòng 15 năm tới (kể từ 2019) nếu không có giải pháp công nghệ hiệu quả nào được đưa ra.
129
Giao thông vận tải
Bài chi tiết:
Giao thông ở Nga
Tàu điện ngầm Moskva
vào giờ cao điểm
Vận tải đường sắt ở Nga nằm dưới sự kiểm soát độc quyền của công ty Russian Railways do nhà nước quản lý. Tổng
chiều dài
các tuyến đường sắt ở Nga là
85.500
km (53.127
mi)
130
chỉ đứng sau Hoa Kỳ. Không giống như hầu hết các quốc gia khác trên thế giới, đường ray ở Nga sử dụng khổ rộng
1.520
mm
ft
11
27
32
in
, ngoại trừ
957
km (595
mi)
đường ray trên
đảo Sakhalin
sử dụng khổ hẹp
1.067
mm
ft
in
. Tuyến đường sắt nổi tiếng nhất ở Nga là
Tuyến đường sắt xuyên SIberia
Transsib
), trải dài trên 7 múi giờ và nắm giữ kỷ lục với các chuyến tàu dài nhất trên thế giới, như các chuyến Moscow-
Vladivostok
9.259
km (5.753
mi)
), Moscow-
Bình Nhưỡng
10.267
km (6.380
mi)
131
và
Kiev
-Vladivostok
11.085
km (6.888
mi)
).
132
Tính đến năm 2006
cập nhật
, Nga có tổng cộng 933.000
km đường bộ, trong đó 755.000
km được trải nhựa.
133
Một số tuyến đường trong số này tạo nên hệ thống đường cao tốc liên bang Nga.
Tổng
chiều dài
đường thủy nội địa của Nga là 102.000
km, chủ yếu là sông hoặc hồ tự nhiên. Ở phần lãnh thổ châu Âu của đất nước, mạng lưới các kênh đào kết nối lưu vực của các con sông lớn. Các cảng biển lớn của Nga bao gồm cảng
Rostov trên Sông Đông
ở biển Azov,
Novorossiysk
ở Biển Đen,
Astrakhan
và
Makhachkala
ở biển Caspian,
Kaliningrad
và St Petersburg ở biển Baltic,
Arkhangelsk
ở Biển Trắng,
Murmansk
ở biển Barents,
Petropavlovsk -Kamchatsky
và
Vladivostok
ở Thái Bình Dương. Năm 2008, Nga sở hữu 1.448 tàu thương mại. Hạm đội tàu phá băng của Nga là hạm đội tàu phá băng chạy bằng năng lượng hạt nhân duy nhất trên thế giới, thúc đẩy việc khai thác kinh tế ở thềm lục địa
Bắc Cực
của Nga và phát triển giao thương đường biển qua tuyến biển Bắc giữa châu Âu và Đông Á.
Về tổng
chiều dài
đường ống, Nga chỉ đứng sau Hoa Kỳ. Hiện tại, nhiều dự án đường ống mới đang được thực hiện, bao gồm các đường ống khí đốt tự nhiên
Nord Stream
và
South Stream
nối đến châu Âu lục địa, và đường ống dẫn dầu Đông Siberia - Thái Bình Dương (ESPO) đến Viễn Đông và Trung Quốc.
Nga có tổng cộng 1.216 sân bay,
134
bận rộn nhất là các sân bay
Sheremetyevo
Domodingovo
và
Vnukovo
ở Moscow và
Pulkovo
ở St. Petersburg.
Hầu hết các thành phố lớn của Nga có hệ thống giao thông công cộng rất phát triển, với các loại phương tiện giao thông công cộng phổ biến nhất là xe buýt,
xe điện bánh hơi
và tàu điện. Bảy thành phố của Nga, cụ thể là các thành phố
Moscow
Saint Petersburg
, Nizhny Novgorod, Novosibirsk, Samara, Yekaterinburg và Kazan có hệ thống tàu điện ngầm. Tổng
chiều dài
của các tuyến metro ở Nga là
465,4 kilômét (289,2
mi)
Moscow Metro
và
Saint Petersburg Metro
là hai hệ thống tàu điện ngầm lâu đời nhất ở Nga, được khánh thành lần lượt vào các năm 1935 và 1955. Đây là hai trong số những hệ thống tàu điện ngầm nhanh nhất và bận rộn nhất trên thế giới, nổi tiếng với trang trí phong phú và thiết kế độc đáo tại các sân ga.
Du lịch
Bài chi tiết:
Du lịch Nga
Nhà thờ chính tòa Thánh Vasily
là một trong những biểu tượng văn hóa nổi tiếng nhất của Nga.
Ngành
du lịch
của Nga đã tăng trưởng nhanh chóng kể từ cuối thời kì Xô viết, đầu tiên là du lịch trong nước và sau đó là du lịch quốc tế, được thúc đẩy bởi di sản văn hóa phong phú và sự đa dạng tự nhiên tuyệt vời của đất nước. Các tuyến du lịch chính ở Nga bao gồm một cuộc hành trình vòng quanh các thành phố cổ ở Golden Ring, du lịch trên các con sông lớn như
sông Volga
và những chuyến đi dài trên
Tuyến đường sắt xuyên Siberia
nổi tiếng. Trong năm 2013, đã có tổng cộng 28,4 triệu lượt khách du lịch đến thăm Nga; khiến Nga trở thành nước có số lượng khách du lịch tham quan đứng thứ 9 trên thế giới. Số lượng khách du lịch tới từ phương Tây có sự suy giảm kể từ năm 2014 do lệnh trừng phạt kinh tế của Phương Tây đối với Nga.
135
Tính đến hết năm 2017, Liên bang Nga đã có 27
di sản thế giới
được
UNESCO
công nhận, trong đó có 16 di sản văn hóa và 11 di sản tự nhiên. Ba di sản thế giới đầu tiên tại Nga được công nhận vào năm 1990 là
Trung tâm lịch sử của Saint-Peterburg
Kizhi Pogost
Điện Kremli
và
Quảng trường Đỏ
. Nga có 4 di sản chung với các quốc gia khác là
Vòng cung trắc đạc Struve
chung với Belarus, Estonia, Phần Lan, Latvia, Lithuania, Moldova, Na Uy, Thụy Điển, Ukraina, Mũi đất Kursh chung với Lithuania), còn
Phong cảnh Dauria
và
Hồ Uvs
là hai di sản chung với
Mông Cổ
. Địa điểm mới nhất được công nhận là
Phong cảnh Dauria
được công nhận vào năm 2017.
Các điểm đến được thăm nhiều nhất ở Nga là
Moskva
và
Sankt Peterburg
, hai thành phố lớn nhất của đất nước. Được công nhận là Thành phố Nhân loại, 2 thành phố này có các bảo tàng nổi tiếng thế giới như
Bảo tàng Tretyakov
và
Bảo tàng Ermitazh
, các nhà hát nổi tiếng như
Nhà hát Bolshoi
và
Nhà hát Mariinsky
, các nhà thờ như
Nhà thờ chính tòa Thánh Vasily
Nhà thờ chính tòa Chúa Kitô Đấng Cứu Độ
Nhà thờ chính tòa Thánh Isaac
và
Nhà thờ Chúa Cứu thế trên Máu đổ
, các công trình đầy ấn tượng như
điện Kremli
cùng với
Pháo đài Thánh Phêrô và Phaolô
, những quảng trường và những con phố xinh đẹp như
Quảng trường Đỏ
Quảng trường Cung điện
Phố Tverskaya
Phố Nevsky Prospekt
và
Phố Arbat
. Các cung điện và công viên được tìm thấy trong các dinh thự hoàng gia cũ ở ngoại ô Moskva (Kolomenskoye, Tsaritsyno) và St Petersburg (Peterhof, Strelna, Oranienbaum, Gatchina, Pavlovsk và Tsarskoye Selo). Ở
Moskva
vẫn còn tồn tại nhiều công trình kiến trúc của thời kỳ Liên Xô, cùng với đó là các tòa nhà chọc trời hiện đại mới được xây dựng, trong khi St Petersburg, có biệt danh là "
Venice
của phương Bắc", tự hào về các công trình kiến trúc cổ điển, những con sông, kênh rạch và cầu.
Các bãi biển ấm áp của
Biển Đen
đã hình thành nên một số khu du lịch biển nổi tiếng, chẳng hạn như
Sochi
, thành phố chủ nhà
Thế vận hội mùa đông 2014
. Những ngọn núi ở
Bắc Kavkaz
là nơi có các khu trượt tuyết nổi tiếng như
Dombay
. Điểm đến tự nhiên nổi tiếng nhất ở Nga là
Hồ Baikal
. Đây là hồ nước lâu đời nhất và sâu nhất trên thế giới, có làn nước trong như pha lê và được bao quanh bởi những ngọn núi. Các điểm du lịch tự nhiên phổ biến khác ở Nga bao gồm
Kamchatka
với những ngọn núi lửa và mạch nước phun,
Karelia
với các hồ và
đá granit
, dãy núi Altai phủ tuyết, và các thảo nguyên hoang dã của
Tuva
Khoa học, kỹ thuật và công nghệ
Bài chi tiết:
Viện Hàn lâm Khoa học Nga
Cơ quan Vũ trụ Liên bang Nga
Liên đoàn Hàng không Thống nhất
Rosatom
Rosoboronexport
Danh sách nhà phát minh Nga
Danh sách nhà thám hiểm Nga
, và
Danh sách nhà du hành vũ trụ Nga
Lomonosov
là nhà bác học, nhà phát minh, nhà thơ và nghệ sĩ nổi tiếng của Nga.
Từ đầu thế kỷ XVIII
những cuộc cải cách của Pyotr Đại đế
(người sáng lập
Viện Hàn lâm Khoa học Nga
và
Đại học Quốc gia Sankt Peterburg
) và những đóng góp của những người từng tốt nghiệp tại đây như
học giả
Mikhail Lomonosov
(người sáng lập
Đại học Quốc gia Moskva
) đã giúp nước Nga có được sự phát triển mạnh trong khoa học và phát minh. Trong thế kỷ XIX và XX nước này đã sản sinh ra một lượng lớn các
nhà khoa học
và nhà phát minh
Nikolai Lobachevsky
, một
Copernicus
trong
hình học
, đã phát triển
hình học phi Euclid
Dmitri Mendeleev
phát minh ra
Bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học
, khuôn khổ chính của
hoá học
hiện đại.
Gleb Kotelnikov
phát minh ra
dù
ba lô
, trong khi
Evgeniy Chertovsky
phát minh ra
quần áo điều áp
Pavel Yablochkov
và
Alexander Lodygin
là những nhà tiên phong vĩ đại trong
kỹ thuật điện
và là những nhà phát minh của những
đèn điện
đầu tiên.
Alexander Popov
là một trong những
người phát minh radio
, trong khi
Nikolai Basov
và
Alexander Prokhorov
là hai người đồng phát minh ra tia
laser
và
maser
Igor Tamm
Andrei Sakharov
và
Lev Artsimovich
đã phát triển ý tưởng
tokamak
để kiểm soát
phản ứng tổng hợp hạt nhân
và tạo ra nguyên mẫu đầu tiên của nó, sau này dẫn tới dự án
ITER
. Nhiều nhà khoa học và phát minh nổi tiếng của Nga là
người di cư
, như
Igor Sikorsky
và
Vladimir Zworykin
, và nhiều nhà khoa học nước ngoài cũng đã làm việc ở Nga một thời gian dài như
Leonard Euler
và
Alfred Nobel
Vostok 1
là chuyến bay vũ trụ có người lái đầu tiên trong lịch sử, đưa phi hành gia
Yuri Gagarin
trở thành người đầu tiên
bay vào không gian
và bay quanh Trái Đất vào ngày 12 tháng 4 năm 1961, mở ra kỷ nguyên khám phá vũ trụ của nhân loại.
Các thành tựu lớn nhất của Nga thuộc lĩnh vực
công nghệ vũ trụ
và
thám hiểm vũ trụ
Konstantin Tsiolkovsky
là cha đẻ của lý thuyết hàng không vũ trụ.
136
Các tác phẩm của ông đã tạo cảm hứng cho những kỹ sư tên lửa hàng đầu của
Liên xô
như
Sergey Korolyov
Valentin Glushko
và nhiều người khác đóng góp vào sự thành công của
Chương trình Vũ trụ Liên xô
ở những giai đoạn đầu của cuộc
Chạy đua vào không gian
. năm 1957
vệ tinh nhân tạo
đầu tiên bay quanh Trái Đất,
Sputnik 1
, được phóng lên; năm 1961 ngày
12 tháng 4
chuyến bay đầu tiên của loài người vào vũ trụ đã được
Yuri Gagarin
thực hiện thành công; và nhiều người Liên xô và Nga khác đã thực hiện
kỷ lục thám hiểm vũ trụ
. Từ năm 1999 đến 2009 Nga là nước phóng tên lửa nhiều nhất, 245 tên lửa có tải trọng lên quỹ đạo thành công so với 218 của Mỹ
137
và cũng là nước duy nhất cung cấp các dịch vụ
du lịch vũ trụ
cần dẫn nguồn
Thủ tướng
Dmitry Medvedev
đã lên tiếng cảnh báo rằng Nga đang mất dần danh tiếng và tiền của do các dự án vũ trụ thất bại, sau khi không thể đưa 2 vệ tinh lên quỹ đạo tháng 8/2012. Vụ phóng đã thất bại gây tổn thất lớn cho ngành
công nghiệp hàng không vũ trụ Nga
. Một sự cố tương tự năm 2011 đã khiến Nga mất một vệ tinh thông tin trị giá 265 triệu USD. Nga cũng từng thất bại trong vụ phóng tàu thăm dò
Sao Hỏa
Phobos-Grunt
138
Ông Medvedev cũng cho rằng:
"Chẳng
cường quốc không gian
nào lại chứng kiến nhiều vụ phóng
vệ tinh
và phi thuyền hỏng như Nga"
. Vì thế ông quyết định chấn chỉnh lại ngành công nghiệp vũ trụ của Nga
139
cũng như tiếp tục các chương trình thám hiểm Sao Hỏa khác
140
141
và đã hoàn thành chương trình
Mars-500
để thu thập thêm nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực đưa người lên Sao Hỏa
142
Đây là dự án quốc tế của Nga, EU (
Liên hiệp châu Âu
) và
Trung Quốc
nhằm nghiên cứu khoa học - kỹ thuật và tâm sinh lý của một toán phi hành gia quốc tế 6 người trên một chuyến bay giả định dài 520 ngày lên
sao Hỏa
và đi bộ trên đó.
143
Sau khi Liên Xô sụp đổ, chính sách của Hoa Kỳ khuyến khích các cơ quan chính phủ và các công ty hàng không vũ trụ mua hàng của Nga và giữ cho các kỹ sư Nga bận rộn nhằm ngăn họ làm việc cho các quốc gia thù địch với lợi ích của Hoa Kỳ.
144
Nga hiện đang là một trong số các nhà cung cấp động cơ tên lửa vũ trụ cho Hoa Kỳ. Vì lý do an ninh quốc gia, Hoa Kỳ yêu cầu phải có ít nhất hai hệ thống phóng. Không quân Hoa Kỳ và NASA hiện đang dựa chủ yếu vào ba loại tên lửa là
Delta IV
và Atlas V được điều hành bởi ULA và
Falcon 9
của SpaceX, trong đó riêng tên lửa Atlas V hiện đang sử dụng động cơ được thiết kế và chế tạo từ Nga là
RD-180
145
Bởi vì chi phí hoạt động Atlas V rẻ hơn Delta IV nên Delta IV được dành riêng để sử dụng với các tải trọng và quỹ đạo khó hơn mà Atlas V không thể xử lý được.
Dù đang cố phát triển động cơ riêng nhưng tập đoàn tên lửa vũ trụ của Nga Energomash cho rằng từ khâu thử nghiệm cho đến khi sản xuất thành công là khoảng thời gian rất dài, Hoa Kỳ sẽ cần trên 3 tỷ USD và khoảng thời gian 10 năm để sản xuất thay thế các động cơ Nga. Vì thế họ cho rằng Mỹ vẫn sẽ nhập động cơ tên lửa từ Nga cho dù có bị cấm
146
và mẫu nâng cấp của Antares sẽ được trang bị các động cơ này.
147
Trạm vũ trụ Hòa Bình
Các công nghệ khác, nơi người Nga có lịch sử phát triển, gồm
công nghệ hạt nhân
, sản xuất
máy bay
và
công nghệ quốc phòng
. Việc xây dựng
nhà máy điện hạt nhân
đầu tiên cùng
các lò phản ứng hạt nhân đầu tiên
cho
tàu ngầm
và
tàu hoạt động trên mặt nước
nằm dưới sự chỉ đạo của
Igor Kurchatov
. Một số nhà kỹ thuật hàng không nổi bật của Liên xô, có cảm hứng từ các tác phẩm lý thuyết của
Nikolai Zhukovsky
, đã giám sát việc chế tạo hàng chục model máy bay quân sự và dân sự và đã thành lập một số
KBs
Phòng thiết kế
) hiện là thành phần chủ yếu của
Liên đoàn Hàng không Hợp nhất
. Các máy bay nổi tiếng của Nga gồm máy bay chở khách
siêu thanh
đầu tiên
Tupolev Tu-144
của
Alexei Tupolev
, loạt
máy bay chiến đấu
MiG
của
Artem Mikoyan
và
Mikhail Gurevich
, và loạt máy bay
Su
của
Pavel Sukhoi
cùng những người kế tục ông. Những xe tăng chiến trường nổi tiếng của Nga gồm
T-34
, thiết kế xe tăng theo kênh Discovery là loại tốt nhất của
Thế chiến II
148
và các xe tăng khác thuộc loạt T. Súng
AK-47
và
AK-74
của
Mikhail Kalashnikov
là loại
súng tấn công
được sử dụng rộng rãi nhất tên thế giới - tới mức các khẩu súng thuộc kiểu AK đã được chế tạo nhiều hơn tất cả các loại súng tấn công khác cộng lại.
149
150
Dù có những thành tựu công nghệ, từ thời
trì trệ Brezhnev
, Nga đã tụt hậu so với
phương Tây
trong một số ngành kỹ thuật, đặc biệt là trong
tiết kiệm năng lượng
và sản xuất
hàng tiêu dùng
. Cuộc khủng hoảng kinh tế hồi những năm 1990 đã khiến khoản hỗ trợ cho khoa học của nhà nước sụt giảm mạnh. Nhiều nhà khoa học và những người có trình độ của Nga đã đi sang
châu Âu
hay
Hoa Kỳ
; cuộc di cư này được gọi là một cuộc
chảy máu chất xám
. Những năm 2000, với làn sóng bùng nổ kinh tế, tình hình khoa học và công nghệ ở Nga đã được cải thiện, và chính phủ đã tung ra một chiến dịch với mục tiêu
hiện đại hoá
và
cải tiến
Tổng thống Nga
Dmitry Medvedev
đã đưa ra 5 ưu tiên hàng đầu cho việc phát triển công nghệ của đất nước:
hiệu quả năng lượng
IT
(gồm cả các sản phẩm thông thường và các sản phẩm kết hợp với
công nghệ vũ trụ
),
năng lượng hạt nhân
và
dược
151
Mặc dù là nhà xuất khẩu hàng
công nghiệp nặng
hàng đầu thế giới và đang đạt được những tiến bộ về phần mềm, nhưng các sản phẩm
hàng tiêu dùng
của Nga lại thiếu tính cạnh tranh trên trường quốc tế do đơn điệu về mẫu mã. Cải thiện về năng suất sẽ chủ yếu xuất phát từ công nghệ mới và đầu tư vốn hiệu quả, hai điều mà Nga đang thiếu.
152
Một số thành tựu mới đã xuất hiện, với việc nước Nga đã hoàn thành
GLONASS
, một trong 4
hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu
cùng với
GPS
của
Mỹ
Hệ thống định vị Bắc Đẩu
của
Trung Quốc
và
Hệ thống định vị Galileo
của
châu Âu
. Trong giai đoạn 2003-2014, 75-80% linh kiện điện tử dùng cho vệ tinh Glonass-M phải mua từ các nước phương Tây.
153
Chính phủ Nga đã phải tính đến khả năng dừng chế tạo vệ tinh GLONASS-K do không có các linh kiện đồng bộ từ nước ngoài sau khi phương Tây cấm xuất khẩu linh kiện cho Nga
154
Năm 2016, Nga đã lập kế hoạch đến năm 2024 sẽ tự sản xuất toàn bộ các linh kiện vệ tinh để tránh việc phải phụ thuộc vào linh kiện nhập khẩu. Năm 2019, Nga bắt đầu sản xuất các vệ tinh Glonass-K2, được phát triển bởi
ISS Reshetnev
(Hệ thống vệ tinh thông tin Reshetnev). Trong khi GLONASS-K có tới 90% thiết bị điện tử nhập từ nước ngoài thì GLONASS-K2 mới sẽ sử dụng toàn bộ các thành phần làm tại Nga, đồng thời Glonass-K2 sẽ có tuổi thọ hoạt động cao hơn 3 năm. Theo kế hoạch, 20 vệ tinh thế hệ mới "Glonass-K2" sẽ được phóng trong giai đoạn 2020-2031.
155
Nga là nước duy nhất xây dựng
nhà máy điện hạt nhân di động
và hiện đang là nước đi đầu trong nghiên cứu
nhà máy điện hạt nhân thế hệ thứ 5
cần dẫn nguồn
(loại này có hiệu suất tiêu thụ nhiên liệu hạt nhân vượt trội so với các nhà máy thế hệ trước, giúp việc sản xuất điện không tạo ra hoặc chỉ tạo ra rất ít
chất thải phóng xạ
cần dẫn nguồn
. Nga cũng cho ra đời các thiết kế quân sự mới như
máy bay tàng hình
Su-57
, xe tăng
T-14 Armata
Do sự phân công sản xuất từ thời Liên Xô nên sau khi Liên Xô tan rã, một số nhà máy công nghiệp chủ chốt lại thuộc về nước khác chứ không thuộc về Nga, do vậy Nga bị thiếu khả năng sản xuất trong một số lĩnh vực (ví dụ như các nhà máy đóng tàu lớn thời Liên Xô hiện nay thuộc về Ucraina, nên Nga phải mua động cơ tàu biển từ nước này)
cần dẫn nguồn
. Trung Quốc cũng bắt đầu bán cho Nga các sản phẩm phục vụ mục đích quân sự. Tốc độ nhập khẩu tăng trưởng nhanh khi Trung Quốc bán cho Nga không chỉ các động cơ diesel, mà cả những thiết bị dành cho các tàu hỗ trợ quân sự. Đến năm 2017, doanh thu tiếp tục tăng và đó chỉ là sự khởi đầu vì trong tương lai Nga sẽ mua các thiết bị công nghệ từ Trung Quốc nhiều hơn nữa. Nga không thích ý tưởng mua sản phẩm của Trung Quốc mà muốn sản phẩm phương Tây, nhưng ngay khi phương Tây trừng phạt Nga, họ ngay lập tức phải quay sang mua hàng từ Trung Quốc.
156
Trong lĩnh vực nghiên cứu các nguyên tố siêu nặng, Nga vẫn dẫn đầu thế giới khi lần đầu tiên thực hiện tổng hợp thành công 6 nguyên tố nặng nhất với số nguyên tử từ 113 đến 118. Đó là thành tựu 10 năm nghiên cứu (2000-2010) của các chuyên gia thuộc phòng thí nghiệm vật lý Flerov tại Viện Nghiên cứu Hạt nhân ở Dubna gần Moscow. Hai nguyên tố trong số đó đã được Hiệp hội Hóa học cơ bản và hóa học ứng dụng Quốc tế (IUPAC) chính thức công nhận với hai cái tên Flerova (114) và Livermore (116).
Năm 2006, các nhà khoa học Nga đã tạo ra sự phát xạ ánh sáng mạnh nhất trên thế giới dựa trên công nghệ PEARL (Petawatt Parametric Laser) được tạo ra trong
Viện vật lý ứng dụng Nizhny Novgorod
thuộc
Viện Hàn lâm khoa học Nga
, dựa trên kỹ thuật khuếch đại tham số ánh sáng trong các tinh thể quang học phi tuyến. Công nghệ này có thể tạo ra xung động điện mạnh đến 0,56 petawatt, gấp hàng trăm lần công suất của tất cả các nhà máy điện trên thế giới cộng lại (1 petawatt = 1 triệu gigawatt). Các nhà khoa học Nga cũng tạo được từ trường nhân tạo mạnh chưa từng có, đạt đến 28 megagausses, gấp hàng trăm triệu lần so với từ lực của từ trường Trái Đất.
Năm 2015, một nhà khoa học Nga là
Vladimir Leonov
tuyên bố đã thử nghiệm thành công một mẫu thử nghiệm
động cơ lượng tử
có hiệu suất mạnh gấp 5.000 lần động cơ tên lửa thông thường, sẽ tạo ra cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật trong thế kỷ XXI, tương tự cuộc cách mạng công nghệ thông tin trong thế kỷ XX. Động cơ lượng tử có thể đưa khí tài bay chuyển động với tốc độ 1000
km/giây, trong khi tốc độ tên lửa thông thường chỉ đạt tới mức tối đa 18
km/giây, nghĩa là tàu vũ trụ có thể bay tới
sao Hỏa
trong vòng 42 giờ, và tới
Mặt trăng
chỉ mất 3,6 giờ. Năng lượng cung cấp cho động cơ đến từ phản ứng nhiệt hạch lạnh (CNF): một kg nickel cho năng lượng tương đương một triệu kg xăng. Dùng động cơ này, máy bay sẽ chỉ cần nạp năng lượng một lần để bay trong vài năm. Thành tựu kỹ thuật này là kết quả vận dụng
Lý thuyết siêu liên kết
do các nhà khoa học Nga xây dựng nên.
157
Ngày 11-8 năm 2020, Tổng thống Vladimir Putin đã phê duyệt vaccine
COVID-19
đầu tiên trên thế giới do Trung tâm Nghiên cứu quốc gia về dịch tễ và vi sinh vật học Gamaleya của Nga phát triển.
158
Theo tờ báo Kommersant, các cơ quan chính phủ và công ty nhà nước của Nga phải mua 700.000 PC và 300.000 máy chủ mỗi năm, trị giá tương ứng là 500 triệu USD và 300 triệu USD. Trong nỗ lực thúc đẩy năng lực tự sản xuất vi xử lý cho máy tính và máy chủ của các cơ quan nhà nước, Nga sẽ sớm thay thế các vi xử lý của Intel và AMD bằng vi xử lý nội địa Baikal.
159
Tuy nhiên Nga buộc phải đặt hàng sản xuất vi xử lý này tại nhà máy
TSMC
của
Đài Loan
do doanh nghiệp Mikron ở
Zelenograd
, doanh nghiệp phát triển nhất về mặt này ở Nga chỉ có thể sản xuất hàng loạt vi xử lý 90
nm.
160
Nhân khẩu
Bài chi tiết:
Nhân khẩu Nga
Thành phần sắc tộc (2002)
161
Người Nga
79,8%
Người Tatar
3,8%
Người Ukraina
2,0%
Người Bashkir
1,2%
Người Chuvash
1,1%
Người Chechnya
0,9%
Người Armenia
0,8%
Khác/không xác định
10,4%
Liên bang Nga là một
xã hội đa sắc tộc
đa dạng, là nơi sinh sống của 160 nhóm sắc tộc và người bản xứ khác nhau.
162
Dù dân số Nga khá lớn, mật độ dân số thấp bởi diện tích vĩ đại của nước này.
163
Dân số tập trung đông nhất tại
vùng châu Âu của Nga
, gần
dãy Ural
, và ở phía tây nam
Siberia
. 73% dân số sống tại các khu vực đô thị.
164
Theo những ước tính sơ bộ, dân số sống thường xuyên tại Liên bang Nga ở thời điểm ngày 1 tháng 1 năm 2009 là 141,903,979 người. Năm 2008, dân số giảm 121,400 người, hay -0.085% (năm 2007 – 212,000 người, hay 0.15% và năm 2006 – 532,600 người, hay 0.37%). Trong năm 2008 nhập cư tiếp tục gia tăng ở mức độ 2.7% với 281,615 người tới Nga, trong số đó 95% tới từ các quốc gia thuộc
CIS
, đại đa số là người Nga hay
người nói tiếng Nga
165
166
Số lượng người Nga di cư đã giảm 16% xuống còn 39,508 người, trong số đó 66% tới các quốc gia thuộc CIS. Ước tính có 10 triệu người nhập cư bất hợp pháp từ các quốc gia
Xô viết cũ
ở Nga.
167
Khoảng 116 triệu người sắc tộc Nga sống ở Nga
168
và khoảng 20 triệu người nữa sống tại các nước cộng hoà cũ của Liên xô, chủ yếu tại
Ukraina
và
Kazakhstan
169
Dân số (đơn vị triệu người) 1950 – 1991 của
Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga
trong
Liên xô
, 1991 – tháng 1 năm 2009 của Liên bang Nga.
165
Số người nói tiếng Nga đông nhất năm 1991 ở mức 148,689,000 triệu người, nhưng bắt đầu sụt giảm mạnh từ đầu những năm 90.
170
Sự sụt giảm đã chậm lại tới mức gần ồn định trong những năm gần đây vì
tỷ lệ tử
giảm,
tỉ lệ sinh
tăng và tăng
nhập cư
. Số người chết trong năm 2008 là 363,500 lớn hơn số sinh. Nó đã giảm từ 477,700 năm 2007, và 687,100 năm 2006.
165
166
Theo dữ liệu được Sở Thống kê Nhà nước Liên bang Nga xuất bản, tỷ lệ tử của Nga đã giảm 4% trong năm 2007, so với năm 2006, ở mức khoảng 2 triệu người chết, trong khi tỉ lệ sinh tăng 8.3% hàng năm lên ước tính 1.6 triệu ca sinh.
171
Các nguyên nhân chủ yếu khiến dân số Nga giảm sút là tỷ lệ tử cao và tỉ lệ sinh thấp. Tuy tỉ lệ sinh của Nga ngang bằng với các quốc gia châu Âu (13.3 ca sinh trên 1000 dân năm 2014
165
so với mức trung bình của
Liên minh châu Âu
10.1 trên 1000)
172
dân số của họ lại giảm với tỷ lệ lớn hơn bất kỳ một quốc gia châu Âu nào khác bởi tỷ lệ tử cao hơn nhiều (năm 2014, tỷ lệ tử của Nga là 13.1 trên 1000 dân
165
so sánh với mức trung bình của Liên minh châu Âu là 9.7 trên 1000).
172
Chính phủ Nga đã và đang thực hiện một số chính sách để tăng tỉ lệ sinh và thu hút người nhập cư. Các khoản trợ cấp hàng tháng của chính phủ dành cho các bậc cha mẹ có con nhỏ đã tăng gấp đôi lên 55 USD và khoản trợ cấp một lần là 9.200 USD đã được cung cấp cho những phụ nữ có con thứ hai kể từ năm 2007.
173
Tháng 8 năm 2012 đã đánh dấu dân số Nga lần đầu tiên đạt mức tăng trưởng dương kể từ thập niên 90. Tổng thống Putin tuyên bố dân số Nga có thể đạt 146 triệu vào năm 2025, chủ yếu là nhờ kết quả của việc nhập cư.
174
Khi ông Putin nhậm chức, dân số Nga đã bị thu hẹp gần 1 triệu người mỗi năm. Moscow luôn coi đây là một "mối nguy hiểm cho chính sự tồn tại của Nga", một điều dường như khó để đảo ngược. Tuy nhiên, tỉ lệ sinh tăng lên khi điều kiện kinh tế Nga được cải thiện. Năm 2011, Tổng thống Putin tuyên bố rằng cuộc khủng hoảng nhân khẩu học đã bị đánh bại. Từ năm 2013 - 2015, dân số Nga có dấu hiệu tăng lần đầu tiên trong thế kỷ XXI. Tuy nhiên, dân số Nga lại một lần nữa giảm và với tốc độ nhanh hơn vào năm 2016. Số ca tử vong vượt qua số ca sinh trong 9 tháng đầu năm 2019 ở mức hơn 250.000 người. Theo cơ quan thống kê nhà nước Rosstat, đây là mức giảm tồi tệ nhất trong 11 năm qua.
105
Cơ quan thống kê chính thức của Nga là Rosstat công bố năm 2013 đã có 186.382 người Nga rời khỏi đất nước vào năm 2013, tăng đáng kể so với chỉ 122.751 người vào năm 2012. Con số này cũng cho thấy sự gia tăng đáng kể so với 36.774 người trong năm 2011 và 33.578 người vào năm 2010.
175
Một số chuyên gia nghi ngờ tính xác thực của số liệu Rosstat, Cáo buộc rằng con số thực tế có thể cao hơn nhiều. Sự gia tăng số người di cư có thể là do sự cô lập chính trị quốc tế đang gia tăng đối với nước Nga dưới thời Vladimir Putin. Trong số những người rời khỏi nước Nga gần đây có nhiều nhân vật nổi tiếng như
Pavel Durov
, người sáng lập mạng xã hội
VKontakte
của Nga, chuyên gia kinh tế
Sergei Guriyev
và nhà vô địch cờ vua thế giới
Garry Kasparov
Ngôn ngữ
Bài chi tiết:
Tiếng Nga
và
Ngôn ngữ của Nga
Các quốc gia có sử dụng tiếng Nga và ảnh hưởng của ngôn ngữ này.
160 nhóm sắc tộc của Nga sử dụng khoảng 100 ngôn ngữ.
19
Theo cuộc điều tra dân số năm 2002, 142.6 triệu người nói tiếng Nga, tiếp sau là
tiếng Tatar
với 5.3 triệu và
tiếng Ukraina
với 1.8 triệu.
176
Tiếng Nga là ngôn ngữ chính thức duy nhất của nhà nước, nhưng Hiến pháp trao cho
các nước cộng hoà
riêng biệt quyền đưa ngôn ngữ bản địa của mình trở thành ngôn ngữ đồng chính thức bên cạnh tiếng Nga.
177
Dù có sự phân tán mạnh, tiếng Nga là thuần nhất trên toàn bộ nước Nga. Tiếng Nga là ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất nếu tính theo diện tích địa lý trên lục địa Âu Á và cũng là
ngôn ngữ Slavơ
được sử dụng nhiều nhất.
178
Tiếng Nga thuộc
ngữ hệ Ấn Âu
và là một trong những thành viên còn tồn tại của
các ngôn ngữ Đông Slavơ
; các ngôn ngữ khác gồm
tiếng Belarus
và
tiếng Ukraina
(và có lẽ cả
tiếng Rusyn
). Những ví dụ văn bản sử dụng
chữ Đông Slavơ Cổ
Nga Cổ
) được chứng minh có từ thế kỷ thứ X trở về sau.
179
Theo người Nga thì hơn một phần tư tác phẩm khoa học của thế giới được xuất bản bằng tiếng Nga. Tiếng Nga cũng được sử dụng làm công cụ mã hoá và lưu trữ văn minh thế giới—60–70% của mọi thông tin trên thế giới được xuất bản bằng tiếng Anh và tiếng Nga.
180
Tiếng Nga cũng là một trong sáu
ngôn ngữ chính thức
của
Liên hiệp quốc
Tôn giáo
Bài chi tiết:
Tôn giáo tại Nga
Tôn giáo tại Nga (ước tính 2024)
Giáo hội Chính thống giáo Nga
(61.8%)
Hệ phái Kitô giáo khác (2.6%)
Không tôn giáo
(21.2%)
Hồi giáo
(9.5%)
Tôn giáo khác (1.4%)
Không rõ (3.5%)
Theo hiến pháp, Nga là một nhà nước thế tục, và ủng hộ
tự do tôn giáo
181
Tôn giáo lớn nhất là
Kitô giáo Chính thống Đông phương
, đại diện chủ yếu bởi
Giáo hội Chính thống giáo Nga
, được công nhận chính thức là có vai trò đặc biệt trong "lịch sử, sự hình thành và phát triển của tâm linh và văn hóa Nga".
181
Nhà thờ chính tòa Chúa Kitô Đấng Cứu Độ
ở Moskva
Kitô giáo
Hồi giáo
Do Thái giáo
, và
Phật giáo
được một điều luật năm 1997 công nhận là các tôn giáo truyền thống của Nga, thuộc "di sản lịch sử" của đất nước.
182
Những con số ước tính về các tín đồ rất khác biệt tuỳ theo các nguồn, và một số báo cáo đưa ra con số người vô thần ở Nga là 16–48% dân số.
183
Chính thống giáo Nga
là tôn giáo chiếm đa số ở Nga.
184
95% xứ đạo có đăng ký thuộc Giáo hội Chính thống Nga trong khi có một số giáo hội nhỏ hơn, đặc biệt là
Chính thống giáo Cựu nghi thức
. Đa số tín hữu Chính thống giáo không thường xuyên tới nhà thờ. Tuy thế, Giáo hội được cả các tín đồ và người vô thần kính trọng và coi đó là một biểu tượng của di sản và văn hoá Nga.
185
Các nhóm Cơ Đốc giáo nhỏ hơn như
Công giáo Rôma
, và nhiều phái
Tin Lành
có tồn tại.
Tổ tiên của nhiều người Nga hiện nay
đã chấp nhận Cơ Đốc giáo Chính thống
ở thế kỷ thứ X.
185
Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2007 do Bộ ngoại giao Mỹ xuất bản đã nói rằng có xấp xỉ 100 triệu công dân coi họ là tín đồ Giáo hội Chính thống Nga.
186
Theo một cuộc điều tra của
Trung tâm Nghiên cứu Ý kiến Công chúng Nga
, 63% người tham gia coi họ là tín đồ Chính thống Nga, 6% tự coi mình là tín đồ
Hồi giáo
và chưa tới 1% coi mình là tín đồ hoặc của Phật giáo, Công giáo, Tin Lành hay Do Thái giáo. 12% khác nói họ tin vào Chúa, nhưng không thực hiện bất kỳ tôn giáo nào và 16% nói họ là người vô thần.
187
Ước tính Nga là nơi sinh sống của khoảng 15–20 triệu
tín đồ Hồi giáo
188
189
Tuy nhiên học giả Hồi giáo và nhà hoạt động nhân quyền
Roman Silantyev
đã tuyên bố rằng chỉ có 7 tới 9 triệu người theo Hồi giáo ở Nga.
190
Nga cũng có ước tính 3 tới 4 triệu người nhập cư Hồi giáo từ
các nước cộng hoà hậu Liên xô
191
Đa số tín đồ Hồi giáo sống ở vùng
Volga-
Ural
, cũng như
Bắc Kavkaz
Moskva
192
Sankt Peterburg
và
Tây Siberia
193
Phật giáo
là truyền thống của ba vùng thuộc Liên bang Nga:
Buryatia
Tuva
, và
Kalmykia
194
Một số người sống ở Siberia và
vùng Viễn Đông
Yakutia
Chukotka
.. thực hiện các nghi thức
Shaman
thuyết phiếm thần
cùng với các tôn giáo chính. Việc tham gia tôn giáo chủ yếu theo sắc tộc. Đại đa số
người Slav
theo Cơ Đốc giáo Chính thống. Những người nói
tiếng Turk
chủ yếu là tín đồ Hồi giáo, dù một số nhóm Turk tại Nga không theo.
195
Chúa nhật Lễ Chúa Ba Ngôi ở Nga;
Giáo hội Chính thống Nga
đã trải qua một sự phục hưng lớn kể từ khi Liên Xô tan rã, một quốc gia theo đuổi
chính sách vô thần của nhà nước
Dưới thời Xô Viết, chính phủ đã thực hiện chính sách bài trừ tôn giáo
196
và cùng với đó cố gắng truyền bá
chủ nghĩa vô thần
197
198
Nhà nước công khai bôi nhọ các tôn giáo cũng như các tín đồ của họ, đồng thời nỗ lực tuyên truyền chủ nghĩa vô thần tại các trường học.
199
Chủ nghĩa vô thần nhà nước
ở Liên Xô được biết đến trong tiếng Nga là
gosateizm
196
được dựa trên hệ tư tưởng của
chủ nghĩa Marx–Lenin
. Chủ nghĩa này đã luôn ủng hộ việc kiểm soát, đàn áp và loại bỏ tôn giáo khỏi đời sống xã hội. Trong vòng một năm sau cuộc Cách mạng tháng Mười, nhà nước đã chiếm đoạt tất cả tài sản của các nhà thờ, thậm chí chiếm đoạt chính các nhà thờ, và trong giai đoạn từ 1922 đến 1926, 28
giám mục
Chính thống Nga và hơn 1.200
linh mục
đã bị giết hại.
200
Theo một điều tra gần đây của Trung tâm nghiên cứu Pew Research Center vào năm 2015, 71% dân số Nga tự xưng là tín đồ Chính thống giáo Nga, 15% là
những người vô thần
bất khả tri
và những người không theo một tôn giáo cụ thể nào. Hồi giáo chiếm 10%, tín đồ các phái Kitô hữu khác chiếm 2%, trong khi 1% thuộc về các tôn giáo khác.
201
Vào năm 1991 chỉ có 37% dân số Nga là tín đồ Chính thống giáo; sau khi
Liên Xô tan rã
, tỉ lệ tín đồ Chính thống giáo ở Nga đã tăng lên đáng kể và năm 2015, khoảng 71% dân số Nga tuyên bố mình là tín đồ Chính thống giáo Nga, trong khi tỷ lệ người không thực hành tôn giáo đã giảm từ 61% trong năm 1991 xuống còn 18% trong năm 2008.
202
Giáo dục
Bài chi tiết:
Giáo dục tại Nga
Khuôn viên
Đại học Quốc gia Moskva
Nga có một hệ thống
giáo dục miễn phí
đảm bảo cho mọi công dân theo
hiến pháp
203
và có tỷ lệ
biết chữ
99.7% vào năm 2015. Đầu vào
cao học
có tính cạnh tranh rất cao.
204
Như một kết quả của sự ưu tiên hàng đầu cho khoa học và kỹ thuật trong giáo dục, y tế, toán học, khoa học và khoa học vũ trụ Nga nói chung có mức độ phát triển cao.
205
206
Tuy nhiên nạn tảo hôn vẫn khá phổ biến ở các làng mạc nông thôn, và 45% trẻ em Nga đi học muộn hơn độ tuổi quy định.
207
Trước năm 1990 quá trình học tập ở
Liên xô
dài 10 năm. Nhưng vào cuối năm 1990, thời gian học 11 năm đã được chính thức áp dụng. Giáo dục tại các
trường cấp hai
của nhà nước là miễn phí; giáo dục
đầu
cấp ba (mức
đại học
) cũng là miễn phí với việc dành trước: một phần lớn sinh viên được tuyển được Nhà nước bao cấp hoàn toàn (nhiều định chế nhà nước bắt đầu mở các khoá thương mại từ những năm gần đây
208
). Năm 2004 chi tiêu quốc gia dành cho giáo dục chiếm 3,6%
GDP
, hay 13% tổng
ngân sách nhà nước
209
trong khi ở
Mỹ
là 7,2% GDP và Nga thua cả Việt Nam (8.3% GDP).
210
Chính phủ bố trí các khoản tiền để trả học phí theo một hạn mức được lập sẵn, hay số lượng sinh viên cho mỗi trường của nhà nước. Điều này được coi là cơ bản bởi nó cung cấp cơ hội tiếp cận cao học cho các sinh viên có khả năng, chứ không phải chỉ cho những người có tiền trả. Ngoài ra, các sinh viên được trả một khoản
học bổng
nhỏ và được cung cấp nơi ở miễn phí. Ngoài các cơ sở giáo dục cao học của nhà nước, nhiều cơ sở tư nhân cũng đã xuất hiện và cung cấp lực lượng nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực
công nghệ cao
công nghệ mới
và kinh tế.
211
Trong các trường đại học Nga có hơn 3 triệu
giáo viên
và nhân viên nghiên cứu, trong đó gần 45%
giáo sư
và
phó giáo sư
. Ngoài ra Nga hiện có gần 2000 trường
đại học
, học viện và các cơ cấu giáo dục khác. Hệ thống giáo dục còn bao gồm gần 800 cơ quan nghiên cứu, phòng thiết kế thí nghiệm và những xí nghiệp do nhà trường xây dựng. Tuy nhiên đã từ lâu nền giáo dục Nga đã bộc lộ những bất cập nhất định. Các cuộc điều tra dư luận xã hội cho thấy tiền đầu tư cho giáo dục tăng nhưng chất lượng giáo dục lại giảm. Ngoài ra, Tổng thống Nga
Vladimir Putin
cho rằng Kỳ thi quốc gia nếu được tổ chức như hiện nay có thể chỉ để tuyển được những học sinh học vẹt mà không khuyến khích các em tư duy một cách khoa học.
Đại học Quốc gia Moskva
hiện đang được đánh giá là trường đại học tốt nhất tại Nga.
Y tế
Bài chi tiết:
Y tế tại Nga
Trung tâm Y tế Đại học Liên bang Viễn Đông
Hiến pháp Nga đảm bảo
chăm sóc y tế phổ thông
, miễn phí cho mọi công dân.
212
Tuy nhiên, trên thực tế chăm sóc sức khoẻ miễn phí bị giới hạn một phần bởi chế độ propiska.
213
214
Tuy Nga có số cơ sở y tế, bệnh viện và nhân viên y tế lớn hơn hầu hết các quốc gia khác khi tính
theo đầu người
215
216
từ khi
Liên xô
sụp đổ sức khoẻ dân chúng Nga đã suy giảm nghiêm trọng vì những thay đổi kinh tế, xã hội và phong cách sống.
217
Ở thời điểm năm 2014,
tuổi thọ
trung bình tại Nga là 65.29 năm cho nam và 76.49 năm cho nữ.
218
Tổng mức tuổi thọ trung bình của người Nga là 67.7 khi sinh, kém 10.8 năm so với con số tổng thể của cả Liên minh châu Âu.
219
Yếu tố lớn nhất dẫn tới mức tuổi thọ khá thấp của nam là tỷ lệ tử cao trong nam giới thuộc tầng lớp lao động vì những nguyên nhân có thể ngăn chặn (như, nhiễm độc rượu, stress, tai nạn giao thông, tội ác bạo lực). Tỷ lệ tử trong nam giới Nga đã tăng 60% từ năm 1991, cao hơn 4 lần của châu Âu.
220
Vì có sự khác biệt lớn giữa tuổi thọ của nam và nữ (nam giới Nga có tuổi thọ thấp hơn nhiều so với nữ do tình trạng lạm dụng rượu) và bởi hiệu ứng còn lại từ
Thế chiến II
, theo đó Nga
có số thiệt hại nhân mạng
cao hơn bất kỳ nước nào trên thế giới, sự
mất cân bằng giới tính
vẫn còn lại tới ngày này và có 85,9 nam trên 100 nữ.
Bệnh tim chiếm 56.7% tổng số tử vong, với khoảng 30% liên quan tới những người đang ở độ tuổi lao động. Một cuộc nghiên cứu cho thấy rượu chịu trách nhiệm cho hơn một nửa số tử vong (52%) của người dân Nga trong độ tuổi từ 15 tới 54 từ năm 1990 tới năm 2001. Với cùng mô hình nhân khẩu này, mức tử của toàn bộ thế giới vì rượu là 4%.
221
Khoảng 16 triệu người Nga mắc các bệnh tim mạch, khiến Nga đứng hàng thứ hai thế giới, sau
Ukraina
, trong lĩnh vực này.
220
Các tỷ lệ tử bởi giết người, tự tử và ung thư cũng đặc biệt cao.
222
52% nam và 15% nữ hút thuốc, hơn 260,000 nhân mạng mất đi hàng năm vì sử dụng thuốc lá.
223
HIV/AIDS, rõ ràng không tồn tại trong thời kỳ Xô viết, đã nhanh chóng lan tràn sau khi Liên xô sụp đổ, chủ yếu bởi sự gia tăng chóng mặt nạn tiêm chích ma tuý.
224
Theo các thống kê chính thức, hiện có hơn 364,000 người Nga có HIV, nhưng những chuyên gia độc lập coi con số thực lớn hơn rất nhiều.
225
Trong những nỗ lực ngày càng gia tăng để chiến đấu với căn bệnh này, chính phủ đã tăng chi tiêu vào các biện pháp kiểm soát HIV gấp 20 lần năm 2006, và ngân sách năm 2007 đã tăng gấp đôi ngân sách năm 2006.
226
Từ khi Liên xô tan rã, cũng có sự gia tăng nhanh chóng về số ca và số tử vong vì bệnh lao, và bệnh này lan đặc biệt nhanh trong cộng đồng tù nhân.
227
Trong một nỗ lực nhằm cứu vãn cuộc khủng hoảng nhân khẩu tại Nga, chính phủ hiện đang áp dụng một số chương trình được thiết kế để gia tăng tỉ lệ sinh thu hút thêm nhiều người nhập cư. Chính phủ đã tăng gấp đôi khoản trợ cấp hàng tháng cho trẻ em và cấp khoản chi một lần 250,000 Rubles (khoảng US$10,000) cho phụ nữ sinh đứa con thứ hai từ năm 2007.
228
Năm 2007, Nga có
tỉ lệ sinh
lớn nhất từ khi Liên xô tan rã.
229
Phó thủ tướng thứ nhất cũng đã nói khoảng 20 tỷ Ruble (khoảng US$1 triệu) sẽ được đầu tư vào các trung tâm chăm sóc tiền sinh sản tại Nga trong năm 2008–2009. Nhập cư ngày càng được coi là cần thiết để duy trì mức độ dân số quốc gia.
230
Do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Nga đang diễn ra kể từ năm 2014, các khoản cắt giảm lớn về chi tiêu dành cho lĩnh vực y tế đã dẫn đến sự suy giảm chất lượng dịch vụ của hệ thống y tế trên toàn liên bang. Khoảng 40% các cơ sở y tế phải cắt giảm nhân sự, trong khi một số khác phải đóng cửa. Thời gian chờ điều trị đã tăng lên, và bệnh nhân bị buộc phải trả thêm tiền cho các dịch vụ mà trước đó hoàn toàn miễn phí.
231
232
Văn hóa
Bài chi tiết:
Văn hóa Nga
Văn hoá dân gian
Nhà thờ gỗ
trên
đảo Kizhi
Có hơn 160 nhóm dân tộc khác nhau cùng với người dân bản địa ở Nga tạo nên sự đa dạng văn hóa của quốc gia này. Bên cạnh nền văn hóa Slavơ
Chính thống giáo
của
người Nga
, còn có văn hóa
Hồi giáo
của người
Tatar
và
Bashkir
, nền văn hóa mang đậm ảnh hưởng
Phật giáo
của các bộ tộc du mục
Buryat
và
Kalmyk
, những người
Shaman giáo
ở cực Bắc và
Siberia
, hay nền văn hóa của người Finno-Ugric vùng Tây Bắc của Nga và vùng
sông Volga
Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, như đồ chơi
Dymkovo
, tranh gỗ
khokhloma
, gốm sứ
gzhel
và tranh sơn mài tiểu họa
Palekh
chiếm vị trí quan trọng trong nền văn hoá dân gian Nga. Trang phục truyền thống của Nga bao gồm
kaftan
kosovorotka
và
ushanka
cho nam giới,
sarafan
và
kokoshnik
cho nữ giới, cùng với các loại giày như
lapti
và
valenki
. Quần áo của dân
Cossacks
từ miền Nam nước Nga bao gồm
burka
và
papaha
Các dân tộc ở Nga có truyền thống đặc biệt về âm nhạc dân gian. Các nhạc cụ truyền thống điển hình của Nga là
gusli
balalaika
zhaleika
, và
garmoshka
. Âm nhạc dân gian có ảnh hưởng đáng kể đến các nhà soạn nhạc cổ điển Nga, và trong thời hiện đại, nó là nguồn cảm hứng cho một số ban nhạc dân ca nổi tiếng như
Melnitsa
Người Nga cũng có nhiều truyền thống đặc sắc khác, bao gồm
tắm hơi kiểu Nga
hay còn gọi là banya. Nhiều truyện cổ tích và các tác phẩm sử thi của Nga đã được chuyển thể thành phim hoạt hình, hoặc các bộ phim nổi bật của những đạo diễn như
Aleksandr Ptushko
(với các bộ phim như
Ilya Muromets
Sadko
) và Aleksandr Rou (đạo diễn các phim
Morozko
Vasilisa Xinh đẹp
). Các nhà thơ Nga, bao gồm
Pyotr Yershov
và
Leonid Filatov
, đã chuyển thể các câu chuyện dân gian thành những tác phẩm thơ rất đáng chú ý, trong khi một số nhà thơ kiệt xuất khác như
Alexander Pushkin
thậm chí đã sáng tác ra cả những bài thơ cổ tích nguyên gốc rất phổ biến.
Ẩm thực
Bài chi tiết:
Ẩm thực Nga
Xa lát Nga
Ẩm thực đóng vai trò rất quan trọng trong xã hội Nga. Những ảnh hưởng của phương Tây đang có tác động đáng kể đến thói quen ăn uống và khẩu vị của người dân, khi các hãng
McDonald's
phát triển tràn lan, và các quán cà phê theo phong cách
Paris
xuất hiện trên các lề phố
Moskva
hay
St.Petersburg
. Tuy nhiên, những món ăn truyền thống và các đặc sản của Nga như rượu
vodka
hay bánh mì "karavai" vẫn giữ nguyên tầm quan trọng của chúng trong các bữa tiệc hay lễ lớn của Nga.
233
Vào mùa đông,
nhiệt độ
có thể xuống tới -20
°C tại thủ đô
Moskva
, vì thế, các thức ăn béo, giàu năng lượng như
bánh mì
, trứng,
bơ
hay
sữa
là rất cần thiết. Ngoài ra còn có những món đặc sản đặc biệt như
shchi
(súp thịt bò và bắp cải) hay
borshch
(súp củ cải đỏ với thịt lợn). Đôi khi người ta cũng ăn
khoai tây
nghiền, rán vào cuối bữa hoặc
bliny
, một loại
bánh kếp
ăn kèm với
mật ong
hoặc
trứng cá
Ngoài thức ăn, người Nga còn có nhiều đồ uống nổi tiếng trên thế giới như rượu
vodka
thường được làm từ
lúa mạch đen
hay
lúa mỳ
. Đôi khi nó còn được pha thêm
tiêu
dâu
hay
chanh
. Một đồ uống nổi tiếng khác là
sbiten
, được làm từ mật ong và thêm một chút hương liệu khác như
dâu
Chè
cũng là một thứ đồ uống nổi tiếng khác. Nó là một loại đồ uống truyền thống và đôi khi cũng được uống kèm
sữa
Kiến trúc
Bài chi tiết:
Kiến trúc Nga
Cung điện Mùa Đông
, dinh thự chính thức của Sa hoàng Nga.
Kiến trúc Nga thời trung cổ ảnh hưởng chủ yếu bởi kiến trúc
Byzantine
Aristotle Fioravanti
và kiến trúc sư người Ý khác đã mang xu hướng kiến trúc
Phục Hưng
vào Nga kể từ cuối thế kỷ 15. Những thiết kế khác của các kiến trúc sư Ý trong thời kì này như
cung điện Granovitaya
ở Moskva hoặc việc tu sửa và xây dựng lại
Điện Kremli
vào những năm 1485 – 1492 đã đem lại một sự pha trộn kiến trúc gây ấn tượng rất mạnh. Công trình xây dựng
Nhà thờ chính tòa thánh Vasily
năm 1555, cùng nhiều nhà thờ khác với kiểu kiến trúc nhiều mái vòm được tiếp tục thực hiện trong kế hoạch xây dựng của nước Nga ở thế kỷ thứ 16. Trong thế kỷ 17, "phong cách bốc lửa" của trang trí phát triển mạnh ở Moskva và Yaroslavl, dần dần mở đường cho phong cách baroque Naryshkin của những năm 1690. Sau những cải cách của
Peter Đại đế
, phong cách kiến trúc ở Nga dần chịu ảnh hương mạnh mẽ của Tây Âu.
Triều đại của
Catherine Đại đế
và cháu trai Alexander vào thế kỷ 18 đã chứng kiến sự hưng thịnh của kiến trúc Tân cổ điển, đáng chú ý nhất ở thủ đô
Sankt Peterburg
với đỉnh cao là công trình
Cung điện mùa đông
. Vào Thế kỷ thứ 19, lối thiết kế mang phong cách
Hy Lạp
phục hưng được phát triển và phong cách thiết kế kinh điển của Nga cũng được hồi sinh vào giữa thế kỷ này.
Hầu hết các công trình kiến trúc từ năm 1850 – 1917 không có nét gì nổi bật, thường là thực hiện kém chất lượng và mang sự hỗn độn của các phong cách thiết kế. Vào thế kỷ 20, những kiến trúc sư trẻ đã theo phong trào thiết kế có xu hướng tạo dựng và phong cách thiết kế kiến trúc hiện đại mới.
Âm nhạc
Nhà soạn nhạc lừng danh Tchaikovsky.
Nhạc cổ điển
phát triển mạnh ở Nga vào thế kỷ 19. Nhà soạn nhạc cổ điển vĩ đại nhất của Nga là
Pyotr Ilyich Tchaikovsky
. Sang đến thế kỷ 20, một số nhà soạn nhạc nổi tiếng của Nga là
Alexander Scriabin
Igor Stravinsky
Sergei Prokofiev
Dmitri Shostakovich
và
Alfred Schnittke
Nhạc viện Nga đã cho ra nhiều thế hệ nghệ sĩ độc tấu nổi tiếng. Trong số những người nổi tiếng nhất là các nghệ sĩ violin
Jascha Heifetz
David Oistrakh
Leonid Kogan
Gidon Kremer
và
Maxim Vengerov
; các nghệ sĩ
cello
Mstislav Rostropovich
Natalia Gutman
; các nghệ sĩ dương cầm
Vladimir Horowitz
Sviatoslav Richter
Emil Gilels
Vladimir Sofronitsky
và
Evgeny Kissin
; các ca sĩ
Fyodor Shalyapin
Mark Reizen
Elena Obraztsova
Tamara Sinyavskaya
Nina Dorliak
Galina Vishnevskaya
Anna Netrebko
và
Dmitry Hvorostovsky
Nửa sau
thế kỷ 19
, trung tâm thế giới
Ballet
chuyển từ Pháp sang Nga. Một trong những người tạo ra kỷ nguyên vàng cho Trường Ballet Hoàng gia Nga và đóng vai trò lớn trong việc biến St. Petersburg trở thành kinh đô của
ballet
thế giới là
Marius Petipa
. Đoàn
Ballet Bolshoi
tại
Moskva
và Mariinsky Ballet tại
St Petersburg
là nơi đào tạo ra những diễn viên balê vĩ đại nhất của mọi thời đại, trong đó nổi bật lên là hai cái tên
Anna Pavlova
và
Vaslav Nijinsky
, ngoài ra thời Xô viết còn có một số nghệ sỹ ballet nổi tiếng như
Galina Ulanova
Maya Plisetskaya
Rudolf Nureyev
, và
Mikhail Baryshnikov
Nhạc rock hiện đại của Nga chịu ảnh hưởng từ cả nhạc
rock and roll
và
heavy metal
của phương Tây cũng như các ban nhạc truyền thống thời kỳ Xô Viết, như Vladimir Vysotsky và Bulat Okudzhava.
234
Các nhóm nhạc rock nổi tiếng của Nga bao gồm
Mashina Vremeni
DDT
Aquarium
Alisa
Kino
Kipelov
Nautilus Pompilius
Aria
Grazhdanskaya Oborona
Splean
và
Korol i Shut
. Nhạc pop hiện đại của Nga cũng xuất hiện một số gương mặt đạt được danh tiếng nhất định ở tầm quốc tế chẳng hạn như
t.A.T.u
Nu Virgos
và
Vitas
Văn học
Alexander Pushkin
Thế kỷ 18 được coi là thời kỳ Khai sáng của văn học Nga, sự phát triển của
văn học Nga
đã được đặt nền móng trong giai đoạn này bởi các tác phẩm của
Mikhail Lomonosov
và
Denis Fonvizin
. Vào đầu thế kỷ 19 là thời điểm xuất hiện một số nhà văn, nhà thơ được coi là vĩ đại nhất trong
lịch sử Nga
. Giai đoạn này còn được gọi là thời hoàng kim của Văn học Nga, mở đầu với
Alexander Pushkin
, người được coi là đã sáng lập ra ngôn ngữ văn học Nga hiện đại và thường được ca tụng là "
Shakespeare
của nước Nga".
235
Tiếp theo là thơ của
Mikhail Lermontov
và
Nikolay Nekrasov
, kịch của
Alexander Ostrovsky
và
Anton Chekhov
, và văn xuôi của
Nikolai Gogol
và
Ivan Turgenev
Lev Tolstoy
và
Fyodor Dostoyevsky
đã được các nhà phê bình văn học ca ngợi là những tiểu thuyết gia vĩ đại nhất mọi thời đại.
236
237
Đến những năm 1880, truyện ngắn và thơ trở thành thể loại thống trị. Các tác giả hàng đầu của thời đại này bao gồm các nhà thơ như
Valery Bryusov
Vyacheslav Ivanov
Alexander Blok
Nikolay Gumilev
và
Anna Akhmatova
, và các tiểu thuyết gia như
Leonid Andreyev
Ivan Bunin
và
Maxim Gorky
Sau cuộc
Cách mạng Nga năm 1917
, nhiều
nhà văn
và
triết gia
nổi tiếng đã rời bỏ đất nước, bao gồm Bunin,
Vladimir Nabokov
và Nikolay Berdyayev, trong khi một thế hệ các tác giả tài năng mới tham gia cùng nhau trong nỗ lực tạo ra một nền văn hóa riêng biệt. Trong
những năm 1930
, kiểm duyệt văn học đã được thắt chặt phù hợp với chính sách
chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa
. Vào cuối
những năm 1950
, các hạn chế về văn học đã được nới lỏng, và vào
những năm 1970
và
1980
, các
nhà văn
dần thoát khỏi việc bị trói buộc bởi nhà nước trong sáng tác văn học. Các tác giả hàng đầu của thời đại
Xô viết
bao gồm các tiểu thuyết gia
Yevgeny Zamyatin
(di cư),
Mikhail Bulgakov
(bị kiểm duyệt) và
Mikhail Sholokhov
, cùng với các nhà thơ
Vladimir Mayakovsky
Yevgeny Yevtushenko
và
Andrey Voznesensky
Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn
là
nhà văn
nổi tiếng lên án chế độ khủng bố Stalin qua tác phẩm
GULAG quần đảo địa ngục
từng đoạt giải thưởng
Nobel Văn học
Điện ảnh và truyền thông
Hình vẽ của hai nhân vật Sói và Thỏ trong phim hoạt hình
Hãy đợi đấy!
trên thùng điện. Đây là một bộ phim hoạt hình kinh điển, gắn liền với tuổi thơ của nhiều thế hệ người Nga và khán giả quốc tế.
Các phim chiếu rạp của Nga và sau đó là Liên Xô bùng nổ mạnh mẽ giai đoạn sau năm
1917
, kết quả là đã cho ra đời một số bộ phim nổi tiếng thế giới như
Chiến hạm Potemkin
của
Sergei Eisenstein
. Eisenstein là một sinh viên của nhà làm phim và nhà lý thuyết Lev Kuleshov, người đã phát triển lý thuyết về dựng phim và biên tập phim tại trường điện ảnh đầu tiên trên thế giới, Viện điện ảnh All-Union. Dưới thời
Stalin
, chính sách chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa của nhà nước đã phần nào hạn chế sự sáng tạo của các nhà làm phim; tuy nhiên, nhiều bộ phim của Liên Xô theo phong cách này đã thành công về mặt nghệ thuật, bao gồm
Chapaev
Khi đàn sếu bay qua
và
Bài ca người lính
Những năm 1960 và 1970 chứng kiến nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau trong điện ảnh Liên Xô. Các bộ phim hài của
Eldar Ryazanov
và
Leonid Gaidai
trong thời gian đó rất phổ biến. Năm 1961–68,
Sergey Bondarchuk
đạo diễn bộ phim
Chiến tranh và Hòa bình
dựa trên cuốn tiểu thuyết của Leo Tolstoy và đã đoạt giải
Oscar
năm 1968, đây cũng là bộ phim đắt nhất từng được sản xuất tại Liên Xô.
238
Hoạt hình
của Nga có niên đại từ thời
Đế quốc Nga
. Trong thời kỳ Xô viết, xưởng phim Soyuzmultfilm là nhà sản xuất phim hoạt hình lớn nhất. Những đạo diễn nổi tiếng của Nga trong thể loại phim họa hình là
Ivan Ivanov-Vano
Fyodor Khitruk
và
Aleksandr Tatarsky
. Nhiều nhân vật hoạt hình như
Cheburashka
(được coi là
gấu Pooh
của Nga),
Sói
và
Thỏ
trong
Hãy đợi đấy!
(được coi là
Tom và Jerry
của Nga), là những hình tượng mang tính biểu tượng ở Nga và nhiều nước xung quanh.
Cuối những năm 1980 và 1990 là một thời kỳ khủng hoảng của điện ảnh và hoạt hình Nga. Mặc dù các nhà làm phim Nga đã được tự do thể hiện tính sáng tạo của bản thân, các khoản trợ cấp của nhà nước đã giảm đáng kể, dẫn đến ít phim được sản xuất hơn. Những năm đầu của thế kỷ 21 đã chứng kiến lượng người xem tăng lên và sự thịnh vượng trở lại của ngành công nghiệp điện ảnh khi nền kinh tế đã có sự hồi phục.
Trong khi có rất ít đài phát thanh hoặc các kênh truyền hình trong thời Liên Xô, từ hai thập kỷ qua, nhiều đài phát thanh và kênh truyền hình do cả nhà nước và tư nhân sở hữu đã xuất hiện.
Kiểm duyệt
và tự do truyền thông ở Nga luôn là chủ đề chính của truyền thông Nga.
Thể thao
Lễ khai mạc
Giải vô địch bóng đá thế giới 2018
do Nga làm nước chủ nhà.
Các
vận động viên thể thao
của Liên Xô và sau đó là của Nga luôn nằm trong top 4 nước đạt nhiều huy chương vàng nhất tại tất cả các kỳ
Thế vận hội mùa hè
mà họ từng tham dự. Nga (tính cả Liên Xô) đã 2 lần đăng cai
Thế vận hội
Thế vận hội mùa hè 1980
đã được tổ chức tại
Moskva
trong khi
Thế vận hội mùa đông 2014
được tổ chức tại
Sochi
Doping
là một vấn đề rất lớn và hết sức tiêu cực của thể thao Nga. Tổng cộng đã có 51 huy chương vàng của các vận động viên Nga bị
IOC
tước đoạt do sử dụng doping, nhiều nhất trong số tất cả các nước trên thế giới. Từ năm 2011 đến năm 2015, hơn 1000 vận động viên của Nga trong nhiều môn thể thao khác nhau, bao gồm cả các môn mùa hè, mùa đông và các môn thể thao Paralympic (dành cho người khuyết tật), được hưởng lợi từ sự che đậy của nhà nước đối với hành vi sử dụng doping.
239
240
241
242
243
Khúc côn cầu trên băng
là môn thể thao thế mạnh của Nga. Mặc dù bộ môn này chỉ được giới thiệu trong thời kỳ Xô viết, đội tuyển khúc côn cầu trên băng của Liên Xô đã giành chiến thắng tại hầu hết các kì Thế vận hội và các giải vô địch thế giới mà họ tham dự.
Bóng đá
là môn thể thao phổ biến nhất ở nước Nga ngày nay.
Đội tuyển bóng đá quốc gia Liên Xô
đã trở thành nhà vô địch châu Âu đầu tiên khi lên ngôi tại
Euro 1960
. Đội tuyển bóng đá quốc gia Liên Xô cũng đã lọt vào chung kết Euro 1988 nhưng đã để thua đội tuyển
Hà Lan
với tỉ số 0-2. Xuất hiện trong bốn kỳ World Cup liên tiếp từ năm 1958 đến 1970,
Lev Yashin
của đội tuyển bóng đá Liên Xô được coi là một trong những thủ môn xuất sắc nhất trong lịch sử bóng đá, ông cũng nằm trong Đội hình xuất sắc nhất lịch sử
World Cup
của
FIFA
244
Liên Xô giành HCV môn bóng đá nam tại các kỳ thế vận hội năm 1956 và 1988. Các câu lạc bộ bóng đá Nga
CSKA Moskva
và
Zenit Sankt Peterburg
đã giành
cúp UEFA
vào năm 2005 và 2008. Một số CLB bóng đá nổi tiếng khác của Nga gồm có
Spartak Moskva
Lokomotiv Moskva
Dynamo Moskva
và
Rubin Kazan
Đội tuyển bóng đá quốc gia Nga
đã lọt vào bán kết
Euro 2008
trước khi thua nhà vô địch
Tây Ban Nha
với tỉ số 0–3.
Kể từ khi kết thúc thời Xô Viết,
quần vợt
đã trở nên phổ biến tại Nga và Nga đã sản sinh một số tay vợt nổi tiếng, chẳng hạn
Maria Sharapova
. Trong
võ thuật
, Nga là nước khai sinh ra môn thể thao
Sambo
cũng như là quê hương của nhiều
võ sĩ
nổi tiếng như
Fedor Emelianenko
Cờ vua
là một trò tiêu khiển phổ biến rộng rãi ở Nga; một số kỳ thủ Nga nổi tiếng là
Mikhail Botvinnik
Garry Kasparov
Nga là nước chủ nhà
World Cup 2018
. Đây là kỳ
World Cup
bóng đá đầu tiên được tổ chức ở một quốc gia
Đông Âu
Đội tuyển bóng đá quốc gia Nga
đã lọt được vào vòng tứ kết ở giải đấu này.
Ngày lễ
Ngày năm mới
, 1 tháng 1
Giáng sinh chính thống
, ngày 7 tháng 1
Lễ hội Maslenitsa
, vào tháng 2 hoặc tháng 3, vào tuần trước của
Mùa Chay
(theo
Lịch Julian
Ngày quốc tế phụ nữ
, 8 tháng 3
Ngày quốc tế lao động
, 1 tháng 5
Phục sinh chính thống
, vào mùa xuân sau
Mùa Chay
(theo
Lịch Julian
Ngày Chiến thắng
, ngày 9 tháng 5 (ngày kỷ niệm chiến thắng trước
Đức Quốc xã
trong cuộc
Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại
. Một cuộc duyệt binh quân sự khổng lồ được tổ chức vào ngày này hàng năm trên
Quảng trường Đỏ
tại Moskva).
Ngày của bảng chữ cái và văn hóa Slavic, ngày 24 tháng 5
Ngày nước Nga
, ngày 12 tháng 6
Ngày Ivan Kupala
, ngày 7 tháng 7
Ngày Hải quân
, chủ nhật cuối cùng của tháng Bảy (lễ kỷ niệm lớn bao gồm diễu hành hải quân ở
St Petersburg
và
Vladivostok
Ngày đoàn kết toàn dân
, ngày 4 tháng 11
Ngày người bảo vệ Tổ quốc
, ngày 23 tháng 2
Các biểu tượng
Búp bê Matryoshka là một biểu tượng rất nổi tiếng của Nga
Biểu tượng nhà nước của Nga là một con đại bàng hai đầu
Byzantine
kết hợp với hình ảnh của
Thánh George
, đây là biểu tượng xuất hiện trên
quốc huy
của Nga.
Quốc kỳ của Nga
là một lá cờ ba sắc được chia thành ba hình chữ nhật có kích thước bằng nhau: màu trắng ở trên cùng, màu xanh ở giữa, và màu đỏ ở dưới cùng.
Quốc ca Nga
có cùng giai điệu với
Quốc ca của Liên Xô
, mặc dù lời bài hát có sự khác biệt. Khẩu hiệu quốc gia có từ thời Đế quốc Nga là
Thiên Chúa ở bên chúng ta
và khẩu hiệu quốc gia từ thời Liên Xô là
Vô sản toàn thế giới, đoàn kết lại!
hiện không còn được sử dụng nữa và vẫn chưa có khẩu hiệu nào mới để thay thế. Biểu tượng
búa liềm
và
quốc huy Liên Xô
vẫn được nhìn thấy ở một số thành phố của Nga, thường là ở các công trình kiến trúc cũ. Biểu tượng
ngôi sao đỏ
từ thời
Xô viết
cũng dễ bắt gặp, thường là xuất hiện trên các thiết bị quân sự hoặc các đài tưởng niệm chiến tranh. Biểu ngữ đỏ tiếp tục được vinh danh, đặc biệt là Biểu ngữ Chiến thắng năm 1945.
Búp bê Matryoshka
là một
biểu tượng
nổi tiếng của Nga.
Điện Kremli
và
nhà thờ thánh Vasily
Moskva
là những biểu tượng kiến trúc của Nga.
Cheburashka
là linh vật của các đội Olympic quốc gia Nga.
Thánh Maria
Thánh Nikolai
Thánh Andrei
Thánh Georgiy
Thánh Alexander Nevsky
Thánh Sergius xứ Radonezh
và
Thánh Seraphim xứ Sarov
là những vị thánh bảo trợ của Nga. Hoa cúc (
chamomile
) là quốc hoa, còn cây
bạch dương
là quốc cây của Nga.
Gấu Nga
là quốc thú và là động vật biểu tượng của nước Nga, mặc dù trên thực tế biểu tượng này được bắt nguồn từ phương Tây và mới chỉ được
người Nga
chấp nhận gần đây. Nhân cách hóa dân tộc Nga là
Mẹ Nga
Mother Russia
), tương đương với
Uncle Sam
của
Hoa Kỳ
Các vấn đề xã hội
Tình trạng tội phạm
Nước Nga là một trong những nước có làn sóng
tội phạm
cao trên thế giới. Tỷ lệ giết người ở Nga cao gấp bốn lần so với ở
Mỹ
245
Vào năm
2001
, 33.500 người đã bị giết hại. Tổng cộng, vào năm
2011
, có hơn 3 triệu tội phạm được báo cáo. Từ
trộm cắp
thông thường đến
tham nhũng
cướp
và
buôn lậu
đã khiến làn sóng tội phạm ngày càng tăng. Mặc dù
chính phủ Nga
đã cam kết mạnh tay với
tội phạm
, tuy nhiên hành động này vẫn chưa đem lại hiệu quả gì lớn. Theo thống kê của Văn phòng Tội phạm và Ma túy của
Liên Hợp Quốc
, tỉ lệ giết người cố ý ở Nga vào năm
2016
là 10.82/100.000, cao gấp đôi so với
Hoa Kỳ
(5.8/100.000) và cao hơn rất nhiều so với tỉ lệ trung bình của toàn thế giới (6.2/100.000).
246
Hàng giả
Hàng giả cũng là một vấn đề khác gây đau đầu cho các nhà chức trách.
Chính phủ Nga
ước tính đến 90% hàng hóa bán lưu thông đều không rõ nguồn gốc rõ ràng. Các thiết bị điện tử chủ yếu được nhập khẩu bất hợp pháp từ
Đông Nam Á
còn đồ chơi nhập từ
Trung Quốc
. Còn
thực phẩm
thuốc
quần áo
và
băng đĩa
thường có nguồn gốc nội địa.
Thuốc giả
và rượu giả khiến người tiêu dùng bị đe dọa nghiêm trọng nhất. Hằng năm, hàng ngàn người Nga thiệt mạng do uống phải các
chất hóa học
chết người làm giả thành
rượu vodka
247
Khoảng cách giàu nghèo
Tình trạng cách biệt giàu nghèo đang tăng lên. Nhiều người Nga sống trong những căn nhà xây từ thời Xô Viết nay đã xuống cấp. Một điều tra vào năm ngoái của Hiệp hội các kỹ sư Nga cho biết: 20% người ở thành phố không có nước nóng, 12% không có hệ thống sưởi và phải dùng lò sưởi thủ công. Ở các làng quê, tỷ lệ này còn cao hơn. Theo số liệu của
Ngân hàng Thế giới
(WB), hiện nay có hơn 15 triệu người Nga (khoảng 11% dân số) sống dưới mức 150 USD/người/tháng.
248
Tham nhũng
Tham nhũng ở Nga
cũng được coi là một vấn đề nghiêm trọng
249
tác động đến mọi khía cạnh của cuộc sống, bao gồm cả hành chính công,
250
251
thực thi pháp luật,
252
chăm sóc sức khỏe
253
và
giáo dục
254
Theo bảng xếp hạng năm 2016 về
Chỉ số nhận thức tham nhũng
của
Tổ chức Minh bạch Quốc tế
, Nga xếp thứ 131 trên tổng số 176 quốc gia với số điểm là 29.
255
Theo
Ngân hàng Thế giới
, tham nhũng gây thiệt hại lên tới 50% tổng GDP của Nga.
256
Báo động tình trạng tự tử
Nga hiện là một trong những nước có tỉ lệ
tự tử
cao nhất thế giới. Theo thống kê của
WHO
vào năm 2016, tỉ lệ tự tử ở Nga đứng thứ 3 trên toàn cầu (chỉ sau 2 nước là
Lesotho
và
Guyana
), với 26,5 vụ trên 100.000 người.
257
Năm 2012, tỷ lệ tự tử ở tuổi vị thành niên tại Nga cao gấp ba lần mức trung bình của thế giới.
258
Khủng bố, đe doạ an ninh
Vụ khủng bố nhà hát Crocus City Hall
là một trong những vụ khủng bố đẫm máu nhất trong lịch sử Moskva kể từ
Vụ đánh bom chung cư tại Nga năm 1999
, và là vụ tấn công nguy hiểm nhất ở Nga kể từ
Vụ thảm sát Beslan
vào năm 2004.
Tính từ năm 2008 đến năm 2016, đã có 1.088 người chết trong các vụ khủng bố tại Nga,
259
260
gấp 5 lần so với số lượng người chết trong các vụ khủng bố tại
Mỹ
cùng khoảng thời gian (235 người chết).
261
262
Một số vụ khủng bố đẫm máu tại Nga kể từ năm 1999
263
Tháng 9-1999, Các vụ đánh bom ở những tòa chung cư giết gần 300 người tại
Moskva
Buynaksk
và
Volgodonsk
trong khoảng thời gian từ ngày 4-9 tới 16-9. Các phần tử cực đoan
Chechnya
được cho đứng sau những vụ này.
Tháng 10-2002,
Nhà hát Dubrovka
tại Moskva bị 40 tới 50 tay súng bao vây.
Quân đội Nga
vào cuộc, kết quả ít nhất 170 người chết bao gồm 130 trong số gần 1.000 con tin.
Tháng 2-2004, Một vụ đánh bom liều chết ở
tàu điện ngầm
tại
Moskva
làm 41 người chết và hơn 100 người bị thương.
Tháng 5-2004, vụ tấn công liều chết ở
sân vận động Grozny
Cộng hòa Chechnya
thuộc Nga, đã giết 24 người trong đó có
Akhmad Kadyrov
, cha của lãnh đạo
Chechnya
Ramzan Kadyrov
Tháng 8-2004, thêm một vụ khác tại
sân bay Domodedovo
. Cả 90 hành khách trên chuyến bay bị tấn công đã thiệt mạng. Cơ quan chức năng sau đó phát hiện hai người phụ nữ thực hiện vụ tấn công liều chết ấy đã hối lộ để lên máy bay chỉ với 1.000 rúp, tương đương 34 USD vào lúc đó. Và vài ngày sau, một vụ tấn công khác ở tàu điện ngầm tại
Moskva
khiến 10 người thiệt mạng.
Tháng 9-2004 được xem là một trong những cuộc tấn công gây sốc nhất lịch sử an ninh Nga đương đại, khi các tay súng đột nhập vào trường học ở
Beslan
, thuộc tỉnh
Bắc Ossetia
. Những tay súng bắt học sinh, giáo viên và phụ huynh làm con tin. Sau nhiều ngày bế tắc, quân đội Nga tràn vào trường học dẫn tới cái chết của hơn 300 người, trong đó có nhiều trẻ em.
Tháng 10-2005, các tay súng
Hồi giáo
thực hiện cuộc tấn công tại thành phố
Nalchik
, lãnh thổ Kabardino-Balkaria thuộc Nga, gần
Chechnya
. Cuộc giao tranh tại tòa nhà của lực lượng an ninh Nga làm hơn 100 người chết, bao gồm thường dân.
Tháng 11-2009, tuyến tàu cao tốc từ
Moskva
đi
St Petersburg
bị đánh bom khiến 28 người thiệt mạng và 130 người bị thương. Cảnh sát bắt giam 10 người, trong đó có chín người thuộc một gia đình ở khu vực
Cộng hòa Ingushetia
tự trị, ở
Bắc Kavkaz
Tháng 3-2010, hai vụ đánh bom liều chết ở tàu điện ngầm tại thủ đô
Moskva
làm 40 người thiệt mạng. Quan chức Nga mô tả đó là vụ tấn công khủng bố chết chóc và tinh vi nhất ở Nga trong vòng 6 năm. Đặc biệt, một trong các địa điểm bị nhắm tới nằm sát tòa nhà của
Tổng cục An ninh Liên bang Nga
(FSB).
Tháng 1-2011, vụ đánh bom liều chết ở
sân bay Domodedovo
(Moskva) giết chết 37 người và làm 172 người bị thương. Doku Umarov, lãnh đạo nhóm Hồi giáo cực đoan Chechnya có tên Phong trào Tiểu vương quốc Kavkaz nhận trách nhiệm.
Tháng 12/2013. hai vụ đánh bom trong một ngày nhằm vào hệ thống giao thông công cộng ở thành phố
Volgograd
làm tổng cộng 34 người thiệt mạng. Vụ việc này xảy ra chỉ 2 tháng sau một cuộc đánh bom liều chết khác cũng ở
Volgograd
trước thềm
Thế vận hội Mùa đông
năm 2014.
Xem thêm
Quân đội Nga
Các ngày lễ ở Nga
Tổng thống Nga
Ghi chú
Liên Xô Tối cao Nga Xô viết
đã phê chuẩn hiệp định vào ngày 12 tháng 12, tố cáo hiệp ước 1922.
Vào ngày 25 tháng 12, Nga Xô viết được đổi tên thành Liên bang Nga và ngày hôm sau
Xô viết Tối cao Liên Xô
đã phê chuẩn hiệp định, giải thể Liên Xô một cách hiệu quả.
Khi bao gồm
Cộng hòa Krym
và
Sevastopol
, tổng diện tích của Nga tăng lên 17.125.191
km
(6.612.073
dặm
vuông
Anh)
10
Tham khảo
Национальный состав населения
(bằng tiếng Nga).
Federal State Statistics Service
Lưu trữ
bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2022
. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2022
"Русская православная церковь"
(bằng tiếng Nga). Фонд Общественное Мнение, ФОМ (Public Opinion Foundation). ngày 2 tháng 5 năm 2024.
Lưu trữ
bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2024
. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2024
"Russia – The World Factbook"
The World Factbook
Central Intelligence Agency
Lưu trữ
bản gốc ngày 9 tháng 1 năm 2021
. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2022
Prof. Dr. Martin Krzywdzinski (ngày 26 tháng 1 năm 2020).
Consent and Control in the Authoritarian Workplace: Russia and China Compared
Oxford University Press
. tr.
252–.
ISBN
978-0-19-252902-2
OCLC
1026492383
officially a democratic state with the rule of law, in practice an authoritarian dictatorship
Fischer, Sabine (2022).
"Russia on the road to dictatorship"
SWP Comment
. Stiftung Wissenschaft und Politik (SWP), German Institute for International and Security Affairs.
doi
10.18449/2022C30
Bản gốc
lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2024
. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2024
"Russia: Freedom in the World 2023 Country Report"
Freedom House
. ngày 20 tháng 7 năm 2019.
Lưu trữ
bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2023
. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2023
Kuzio, Taras (2016). "Nationalism and authoritarianism in Russia".
Communist and Post-Communist Studies
49
(1).
Nhà xuất bản Đại học California
1–
11.
doi
10.1016/j.postcomstud.2015.12.002
JSTOR
48610429
25 tháng 10, lịch cũ
"World Statistics Pocketbook 2016 edition"
(PDF)
. United Nations Department of Economic and Social Affairs. Statistics Division.
Lưu trữ
(PDF)
bản gốc ngày 18 tháng 6 năm 2019
. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2018
"Thông tin về tính khả dụng và phân phối đất đai tại Liên bang Nga kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2017 (theo các chủ đề liên bang của Nga"
Сведения о наличии и распределении земель в Российской Федерации на ngày 1 tháng 1 năm 2017 (в разрезе субъектов Российской Федерации)
Rosreestr
Bản gốc
lưu trữ ngày 23 tháng 3 năm 2019
. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2022
"The Russian federation: general characteristics"
Federal State Statistics Service
Bản gốc
lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2011
. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2008
Bao gồm 2.459.276 người sống trên
Bán đảo Crimea
Предварительная оценка численности постоянного населения на 1 января 2025 года
Preliminary estimate of the permanent population as of January 1, 2025
(XLSX)
Russian Federal State Statistics Service
(bằng tiếng Nga).
Lưu trữ
bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2025
. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2025
"World Economic Outlook Database, April 2025 Edition. (Russia)"
www.imf.org
Quỹ Tiền tệ Quốc tế
. ngày 22 tháng 4 năm 2025.
Lưu trữ
bản gốc ngày 6 tháng 6 năm 2025
. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2025
"GINI index (World Bank estimate) – Russian Federation"
. World Bank.
Lưu trữ
bản gốc ngày 20 tháng 4 năm 2017
. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2022
"Human Development Report 2025"
(PDF)
Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc
. ngày 6 tháng 5 năm 2025.
Lưu trữ
(PDF)
bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2025
. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2025
"The Constitution of the Russian Federation"
(Article 1)
Lưu trữ
bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2018
. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2009
"The CIA World Fact Book, "Russia"
Bản gốc
lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2015
. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2009
"Russia"
. Encyclopedia Britannica.
Lưu trữ
bản gốc ngày 26 tháng 4 năm 2008
. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2008
Microsoft Encarta Online Encyclopedia 2007.
"Russia"
Bản gốc
lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2009
. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2007
{{
Chú thích web
}}
: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (
liên kết
"First Post; Beware Russia Energy Superpower, ngày 12 tháng 10 năm 2006"
Lưu trữ
bản gốc ngày 11 tháng 10 năm 2009
. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2009
"CNN, "Russia; A superpower rises again" by Simon Hooper. Tháng 12, 2006"
Bản gốc
lưu trữ ngày 22 tháng 11 năm 2010
. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2011
CNN; "Eye on Russia: Russia's resurgence" by Matthew Chance
June 2007
Lưu trữ
ngày 19 tháng 2 năm 2010 tại
Wayback Machine
Library of Congress.
"Topography and drainage"
Lưu trữ
bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2020
. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2007
"Contemporary Soviet Military Affairs"
. Google Books
. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2015
Weinberg, G.L. (1995).
A World at Arms: A Global History of World War II
. Cambridge University Press. tr.
264
ISBN
0521558794
Osbourne, Andrew,
World leaders gather as Russia remembers
Lưu trữ
ngày 19 tháng 12 năm 2009 tại
Wayback Machine
. The Age
Rozhnov, Konstantin,
Who won World War II?
Lưu trữ
ngày 15 tháng 12 năm 2007 tại
Wayback Machine
. BBC. Russian historian Valentin Falin
"Country Profile: Russia"
. Foreign & Commonwealth Office of the United Kingdom.
Bản gốc
lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2009
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
"Status of Nuclear Powers and Their Nuclear Capabilities"
. Federation of American Scientists. tháng 3 năm 2008.
Lưu trữ
bản gốc ngày 29 tháng 2 năm 2000
. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2014
"Online Etymology Dictionary"
. Etymonline.com.
Lưu trữ
bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2016
. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2011
"Rus – definition of Rus by the Free Online Dictionary, Thesaurus and Encyclopedia"
. Thefreedictionary.com.
Lưu trữ
bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2014
. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2011
Milner-Gulland, R. R. (1997).
The Russians: The People of Europe
. Blackwell Publishing. tr.
1–
4.
ISBN
0-631-21849-1
"《俄罗斯国家名称变迁考》,郭文深著,江淮论坛2010年3期"
Bản gốc
lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2014
. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2014
"Kievan Rus' and Mongol Periods"
Đại học bang Sam Houston
Bản gốc
lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2007
. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2007
Kievan Rus' and Mongol Periods
Lưu trữ
ngày 27 tháng 9 năm 2007 tại
Wayback Machine
, trích đoạn từ Glenn E. Curtis (chủ biên),
Russia: A Country Study
, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, 1998.
ISBN 0-16-061212-8
Christopher Duffy,
Borodino and the War of 1812
, trang 36
Christopher Duffy,
Borodino and the War of 1812
, trang 46
Christopher Duffy,
The military experience in the age of reason
, trang 41
Xem Jacob Walkin,
The Rise of Democracy in Pre-Revolutionary Russia: Political and Social Institutions under the Last Three Czars
, Praeger, 1962.
CIAO - Atlas - Russia
liên kết hỏng
Revolutions and Civil War
Lưu trữ
ngày 14 tháng 8 năm 2023 tại
Wayback Machine
, trích đoạn từ Glenn E. Curtis (chủ biên),
Russia: A Country Study
, Bộ quốc phòng Hoa Kỳ, 1998.
ISBN 0-16-061212-8
Xem Donald A. Filzer,
Soviet Workers and the Collapse of Perestroika: The Soviet Labour Process and Gorbachev's Reforms, 1985–1991
, Nhà in Đại học Cambridge, 1994.
ISBN 0-521-45292-9
Xem, chẳng hạn,
Country Profile for the Russian Federation
, của Bộ Ngoại giao Anh. Tra cứu ngày 21-7-2007.
Lưu trữ
ngày 19 tháng 12 năm 2012 tại
Wayback Machine
Famine in Russia: the hidden horrors of 1921
, International Committee of the Red Cross
"World War II"
. Encyclopædia Britannica.
Lưu trữ
bản gốc ngày 11 tháng 5 năm 2015
. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2008
"The Allies' first decisive successes > Stalingrad and the German retreat, summer 1942–February 1943"
. Encyclopedia Britannica.
Lưu trữ
bản gốc ngày 11 tháng 5 năm 2015
. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2008
Erlikman, V. (2004).
Poteri narodonaseleniia v XX veke: spravochnik
. Moskva: Russkai︠a︡ panorama.
ISBN
5931651071
. Note: Estimates for Soviet World War II casualties vary between sources.
"Reconstruction and Cold War"
. Library of Congress.
Lưu trữ
bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2006
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
"Great Escapes from the Gulag"
TIME
Bản gốc
lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2009
. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2008
"1990 CIA World Factbook"
Central Intelligence Agency
Bản gốc
lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2011
. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2008
"Russia Unforeseen Results of Reform"
. The Library of Congress Country Studies; CIA World Factbook.
Lưu trữ
bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2016
. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2008
"The Constitution of the Russian Federation"
(Article 80, §1)
Lưu trữ
bản gốc ngày 16 tháng 4 năm 2016
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
"The Constitution of the Russian Federation"
(Article 110, §1)
Lưu trữ
bản gốc ngày 22 tháng 11 năm 2019
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
"The Constitution of the Russian Federation"
(Article 94)
Lưu trữ
bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2019
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
"The Constitution of the Russian Federation"
(Article 19, §1)
Lưu trữ
bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2021
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
"The Constitution of the Russian Federation"
(Article 120, §1)
Lưu trữ
bản gốc ngày 25 tháng 10 năm 2019
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
"The Constitution of the Russian Federation"
(Article 123, §1)
Lưu trữ
bản gốc ngày 25 tháng 10 năm 2019
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
"The Constitution of the Russian Federation"
(Article 81, §3)
Lưu trữ
bản gốc ngày 16 tháng 4 năm 2016
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
"The Constitution of the Russian Federation"
(Article 95, §3)
Lưu trữ
bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2019
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
Based on actual count of countries listed
"Diplomatic and consular missions of Russia"
. Ministry of Foreign Affairs of Russia.
Lưu trữ
bản gốc ngày 19 tháng 9 năm 2009
. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2009
. Only those listed explicitly as "Embassy of Russia" are included in the embassy count.
Kosachev. K.
"Russian Foreign Policy Vertical"
. Russia In Global Affairs.
Bản gốc
lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2016
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
(bằng tiếng Nga)
"Interview of official Ambassador of Russian Foreign Ministry on relations with the EU"
. RIA Novosti.
Lưu trữ
bản gốc ngày 24 tháng 6 năm 2011
. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2008
"NATO-Russia relations"
. NATO.
Lưu trữ
bản gốc ngày 11 tháng 4 năm 2007
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
"Nga – Trung Quốc: Đối tác thiếu bền vững"
Lưu trữ
bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2012
. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2012
Nga điều chỉnh chiến lược đối ngoại theo hướng nào? - Nga dieu chinh chien luoc doi ngoai theo huong nao? - VOV.VN
Rosefielde, Steven (2005).
Russia in the 21st Century The Prodigal Superpower
. Cambridge University Press.
ISBN
978-0-521-83678-4
Atwell, Kyle (ngày 25 tháng 8 năm 2008).
"Is Russia a Superpower? Cold War
II?"
. Atlantic Review.
Bản gốc
lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2017
. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2016
"What's Looming in Ukraine Is more Threatening than Georgia"
Der Spiegel
. ngày 16 tháng 10 năm 2008.
Lưu trữ
bản gốc ngày 18 tháng 8 năm 2016
. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2016
Nikonov: Russia is not a superpower and won't be one for the foreseeable future. But Russia is a great power. It was one, it is one and it will continue to be one.
"Russia is a Superpower CNN, US Senators telling the truth"
. CNN News. ngày 30 tháng 8 năm 2008.
Venezuela's President Hugo Chávez recognizes independence of breakaway Georgia republics
Lưu trữ
ngày 26 tháng 7 năm 2014 tại
Wayback Machine
by Megan K. Stack. ngày 9 tháng 9 năm 2009
Netanyahu declares Russia as superpower
Russia Today News ngày 15 tháng 2 năm 2010
"Amnesty International report on Russia"
. Amnesty International.
Bản gốc
lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2010
. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2010
"Annual report Russia"
. Freedom House. ngày 10 tháng 5 năm 2004.
Bản gốc
lưu trữ ngày 13 tháng 12 năm 2013
. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2010
"Most Russians Say Gay Sex Is 'Reprehensible' after 20-Year Spike in Homophobia, Poll Shows"
Lưu trữ
bản gốc ngày 23 tháng 5 năm 2018
. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2018
"Gay in Putin's Moscow: why the city is pinker than you think"
The Guardian
. ngày 13 tháng 6 năm 2015.
Lưu trữ
bản gốc ngày 20 tháng 5 năm 2019
. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2018
"Inside the gay club scene in St Petersburg, Russia"
Daily Xtra
. ngày 31 tháng 5 năm 2014.
Lưu trữ
bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2017
. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2018
"Cho phép hôn nhân đồng giới: Âm mưu chính trị khủng khiếp nhắm vào Nga - VTC News"
. Báo điện tử VTC News.
Bản gốc
lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2015
. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2018
"Nga xem xét luật chống người đồng tính"
Tuổi Trẻ Online
Lưu trữ
bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2015
. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2018
"Russia will deport foreigners for homosexual propaganda; Duma passes bill 436"
Lưu trữ
bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2018
. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2018
"Putin: Europeans Are Dying Out Because They Allow Same-Sex Couples To Marry"
Lưu trữ
bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2016
. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2018
"United Russia activists create 'flag for straights' to oppose 'gay fever'
. RT International.
Lưu trữ
bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2018
. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2018
"Chapter 2—Investing In Russian Defense Conversion: Obstacles and Opportunities"
. Federation of American Scientists.
Lưu trữ
bản gốc ngày 18 tháng 12 năm 2007
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
"Status of Nuclear Powers and Their Nuclear Capabilities"
. Federation of American Scientists.
Lưu trữ
bản gốc ngày 5 tháng 6 năm 2016
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
"Công nghiệp Quốc phòng Nga đã lạc hậu? - VTC News"
Lưu trữ
bản gốc ngày 13 tháng 10 năm 2010
. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2012
"Russia arms exports could exceed $7 bln in 2007 – Ivanov"
. RIA Novosti.
Lưu trữ
bản gốc ngày 3 tháng 10 năm 2009
. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2008
"Big rise in Russian military spending raises fears of new challenge to west"
. Guardian.
Lưu trữ
bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2009
. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2008
Pukhov, R. (2009).
"Serdyukov Cleans Up the Arbat"
Moscow Defense Brief
. Số
#1 (15) / 2009.
Centre for Analysis of Strategies and Technologies
Bản gốc
lưu trữ ngày 18 tháng 8 năm 2008
. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2009
Barabanov, M (ngày 16 tháng 2 năm 2009).
"The Army's Chief Destroyer"
. The Moscow Times.
Lưu trữ
bản gốc ngày 16 tháng 7 năm 2011
. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2009
Kazak, Sergey.
"Russia to Up Nuclear Weapons Spending 50% by 2016"
. RIA Novosti.
Lưu trữ
bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2013
. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2014
"Địa lý nước NGA"
. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2012
. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2015
{{
Chú thích web
}}
: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (
liên kết
Nga bớt 2 múi giờ để phát triển kinh tế
"Climate"
. Library Of Congress.
Lưu trữ
bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2016
. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2007
Drozdov, V. A. (1992).
"Ecological and Geographical Characteristics of the Coastal Zone of the Black Sea"
GeoJournal
. Quyển
27. 27.2, pp. 169–178: Springer Netherlands. tr.
169.
doi
10.1007/BF00717701
{{
Chú thích tạp chí
}}
: Quản lý CS1: địa điểm (
liên kết
Library of Congress.
"Topography and Drainage"
Lưu trữ
bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2020
. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2007
Walsh, NP.
"It's Europe's lungs and home to many rare species. But to Russia it's £100bn of wood"
. Guardian (UK).
Lưu trữ
bản gốc ngày 26 tháng 7 năm 2013
. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2007
"list of animals of Red Data Book of Russian Federation (ngày 1 tháng 11 năm 1997)"
Bản gốc
lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2016
. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2009
Russia's Response to Sanctions: How Western Economic Statecraft is Reshaping... - Richard Connolly - Google Sách
Justin Lahart (ngày 16 tháng 12 năm 2014).
"Yield Seekers Prone to Russia's Disease"
Wall Street Journal
Lưu trữ
bản gốc ngày 7 tháng 9 năm 2020
. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2014
Mike Dorning and Ian Katz (ngày 16 tháng 12 năm 2014).
16 tháng 12 năm 2014/u-s-won-t-ease-sanctions-to-prevent-economic-meltdown-in-russia.html "U.S. Won't Ease Sanctions to Stem Russia's Economic Crisis"
Bloomberg
. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2014
{{
Chú thích web
}}
Kiểm tra giá trị
url=
trợ giúp
"The average salary in Russia is now lower than in China and Poland"
. rbth.
Lưu trữ
bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2021
. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2018
"Number of Russians Living in Poverty Rises"
The Wall Street Journal
. ngày 21 tháng 3 năm 2016.
Lưu trữ
bản gốc ngày 3 tháng 6 năm 2021
. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2018
"Today's Stock Market News and Analysis from Nasdaq.com"
NASDAQ.com
Lưu trữ
bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2016
. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2018
"Nga tìm lối thoát kinh tế"
Lưu trữ
bản gốc ngày 26 tháng 12 năm 2019
. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2019
"Nước Nga 20 năm sau lời hứa của Tổng thống Putin"
Lưu trữ
bản gốc ngày 29 tháng 12 năm 2019
. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2019
Land Use
Lưu trữ
ngày 26 tháng 3 năm 2014 tại
Wayback Machine
Data
Lưu trữ
ngày 1 tháng 5 năm 2011 tại
Wayback Machine
by
Rosstat
(bằng tiếng Nga)
Russia takes the third place in the world by grain exports
, rosbankjournal.ru
(bằng tiếng Nga)
Data
Lưu trữ
ngày 1 tháng 5 năm 2011 tại
Wayback Machine
by
Rosstat
(bằng tiếng Nga)
Main agricultural products by type of owners
Lưu trữ
ngày 1 tháng 5 năm 2011 tại
Wayback Machine
Rosstat
, 2009
(bằng tiếng Nga)
"FAO. 2010. Global Forest Resources Assessment 2010. Main Report. FAO Forestry Working Paper 163, Rome, Italy"
(PDF)
Lưu trữ
(PDF)
bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2015
. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2013
Глобальная оценка лесных ресурсов 2010 года
Global Forest Resources Assessment 2010
(PDF)
(bằng tiếng Nga). FAO Forestry Working Paper 163, Rome, Italy. 2010.
Lưu trữ
(PDF)
bản gốc ngày 18 tháng 10 năm 2012
. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2018
"The Russian Federation Forest Sector Outlook Study to 2030"
(PDF)
. FAO. Rome, Italy. 2012.
Lưu trữ
(PDF)
bản gốc ngày 1 tháng 7 năm 2015
. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2013
"Những cánh rừng Nga oằn mình trước cơn khát gỗ của Trung Quốc"
"Những vấn đề môi trường của Liên bang Nga hiện nay"
liên kết hỏng
Vì sao công nghiệp Nga phát triển trì trệ? | Báo điện tử Tầm Nhìn
"Công nghiệp quốc phòng Nga ra sao khi bị Phương Tây o ép? - 10-01-2015 | Người lính | Báo điện tử Tiền Phong"
Lưu trữ
bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2020
. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2018
"Nỗi đau người Nga và bài học cho Việt Nam - DVO - Báo Đất Việt"
Bản gốc
lưu trữ ngày 13 tháng 12 năm 2013
. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2013
"Kỹ sư CNQP Nga sang Đức, Italy "học hỏi" | Tin tức | Kienthuc.net.vn"
Lưu trữ
bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2014
. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2014
"SpaceX lần thứ 9 phóng thành công tên lửa lên trạm ISS | Tạp chí giao thông vận tải"
Lưu trữ
bản gốc ngày 21 tháng 8 năm 2016
. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2016
"Thượng viện Mỹ chấp thuận mua động cơ tên lửa Nga - VnExpress"
VnExpress - Tin nhanh Việt Nam
. ngày 11 tháng 6 năm 2016
. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2017
Linh kiện điện tử xuất lậu sang Nga - Tuổi Trẻ Online
"Nga mua hàng tỷ USD linh kiện quốc phòng của Trung Quốc - Infonet"
Lưu trữ
bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2017
. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2017
"Nga mua linh kiện quân sự, Trung Quốc vui mừng khôn xiết"
Lưu trữ
bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2014
. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2017
"Vì sao nói Nga không thể hoàn thành công nghiệp hóa?"
Lưu trữ
bản gốc ngày 26 tháng 12 năm 2019
. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2019
"Sự kiện & Bình luận Tin "gió mùa đông bắc" tại châu Âu"
Lưu trữ
bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2018
. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2018
{{
Chú thích web
}}
line feed character trong
tiêu đề=
tại ký tự số 20 (
trợ giúp
"Cuộc chiến giá dầu Saudi Arabia - Nga: "Kẻ khóc, người cười"
Lưu trữ
bản gốc ngày 31 tháng 3 năm 2020
. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2020
RIA Novosti
Astrasheuskaya, Nastassia.
"US and EU sanctions take toll on Russian oil and gas exploration"
Lưu trữ
bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2021
. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2021
"Russian Railways"
. Eng.rzd.ru.
Bản gốc
lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2009
. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2010
Lịch trình đường sắt CIS
Lưu trữ
ngày 27 tháng 7 năm 2009 tại
Wayback Machine
, tuyến số 002, Moscow-Bình Nhưỡng, tháng 8 năm 2009.
Lịch trình đường sắt CIS
Lưu trữ
ngày 27 tháng 7 năm 2009 tại
Wayback Machine
, tuyến số 350, Kiev-Vladivostok, tháng 8 năm 2009.
"Протяженность путей сообщения"
Bản gốc
lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2008
. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2019
"CIA The World Factbook–Rank Order–Airports"
. Cia.gov.
Bản gốc
lưu trữ ngày 30 tháng 5 năm 2016
. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2011
Kuzmin, Viktor (ngày 3 tháng 7 năm 2014).
"Concern in Russia as foreign tourist numbers slump"
Lưu trữ
bản gốc ngày 1 tháng 1 năm 2016
. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2018
"American Institute of Aeronautics and Astronautics - Home Page"
Bản gốc
lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2005
. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2005
Lưu trữ
ngày 11 tháng 1 năm 2012 tại
Wayback Machine
Space industry: Do we have lift-off? | The Economist
"Medvedev cảnh báo Nga đang thua trong cuộc đua vũ trụ"
Lưu trữ
bản gốc ngày 27 tháng 8 năm 2012
. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2012
"Nga quyết chấn chỉnh công nghiệp vũ trụ - VnExpress"
Lưu trữ
bản gốc ngày 15 tháng 9 năm 2012
. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2012
"Europe Joins Russia on Robotic ExoMars"
. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2013
. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2015
{{
Chú thích web
}}
: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (
liên kết
"The Space Review: Red Planet blues"
Lưu trữ
bản gốc ngày 19 tháng 4 năm 2012
. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2012
"To Mars and back in 520 days Russia Beyond The Headlines"
Bản gốc
lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2012
. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015
"Từ Mars One đến Mars 500"
Lưu trữ
bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2013
. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2013
"U.S. military, national security agencies vexed by dependence on Russian rocket engines"
Lưu trữ
bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2021
. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2021
"Why America Needs a New Upper Stage Rocket More Than a Russian RD-180 Replacement | The National Interest Blog"
Lưu trữ
bản gốc ngày 12 tháng 2 năm 2018
. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2018
"Lầu Năm Góc "nài nỉ" Thượng viện cho phép mua động cơ tên lửa Nga"
. Báo An ninh Thủ đô.
Lưu trữ
bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2015
. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2015
"Antares Upgrade Will Use RD-181s In Direct Buy From Energomash"
Lưu trữ
bản gốc ngày 17 tháng 12 năm 2014
. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2015
"Discovery Top Ten Tanks: T-34"
Bản gốc
lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2012
. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2012
Poyer, Joe.
The AK-47 and AK-74 Kalashnikov Rifles and Their Variations
. North Cape Publications. 2004.
"Weaponomics: The Economics of Small Arms"
(PDF)
Lưu trữ
(PDF)
bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2017
. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2009
Lưu trữ
ngày 26 tháng 7 năm 2013 tại
Wayback Machine
RIA Novosti
: Medvedev outlines priorities for Russian economy's modernization
"13 tháng 1 năm 2012-su-noi-len-cua-cac-timbis"
Bản gốc
lưu trữ ngày 3 tháng 9 năm 2013
. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2022
"Nga mua linh kiện quân sự, Trung Quốc vui mừng khôn xiết"
Lưu trữ
bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2020
. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2020
"Chuyện gì đang xảy ra với GLONASS Nga?"
liên kết hỏng
+74959376170.
"Из спутников «Глонасс» уберут импортные комплектующие"
. Известия.
Lưu trữ
bản gốc ngày 17 tháng 5 năm 2017
. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024
{{
Chú thích web
}}
author=
có tên số (
trợ giúp
"Внедрение китайского вооружения и оборудования в российскую военную технику – уже не новость. Масштабы поражают воображение"
Lưu trữ
bản gốc ngày 30 tháng 1 năm 2018
. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2018
"Nhà khoa học Nga thử nghiệm động cơ cho tốc độ 1.000 km/giây - VnExpress"
VnExpress - Tin nhanh Việt Nam
Lưu trữ
bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2015
. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2016
"Tổng thống Nga Putin công bố vaccine COVID-19 đầu tiên của thế giới | Cổng TTĐT tỉnh Hà Tĩnh"
Lưu trữ
bản gốc ngày 26 tháng 7 năm 2021
. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2021
"Nga sẽ thay các vi xử lý
Intel
và
AMD
bằng chip nội địa Baikal trong cơ quan nhà nước"
{{
Chú thích web
}}
URL chứa liên kết wiki (
trợ giúp
"В 2021 г. «Эльбрусов» будет выпущено в 20 раз меньше, чем «Байкалов», но разработчики не считают это проигрышем"
Lưu trữ
bản gốc ngày 21 tháng 9 năm 2021
. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2021
"Russian Census of 2002"
4.1. National composition of population
. Federal State Statistics Service.
Bản gốc
lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2011
. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2008
"ngày 1 tháng 6 năm 2007: A great number of children in Russia remain highly vulnerable"
. United Nations Children's Fund.
Bản gốc
lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2011
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
Xem
Danh sách quốc gia theo mật độ dân số
"Resident population"
. Federal State Statistics Service.
Lưu trữ
bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2007
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
"Demographics"
. Federal State Statistics Service.
Lưu trữ
bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2009
. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2009
"Demography"
. Federal State Statistics Service.
Lưu trữ
bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2008
. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2008
"Russia cracking down on illegal migrants"
. International Herald Tribune. ngày 15 tháng 1 năm 2007.
Lưu trữ
bản gốc ngày 15 tháng 9 năm 2008.
Ethnic groups in Russia
Lưu trữ
ngày 22 tháng 6 năm 2011 tại
Wayback Machine
, 2002 census,
Demoscope Weekly
. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2009
Russians left behind in Central Asia
Lưu trữ
ngày 11 tháng 9 năm 2013 tại
Wayback Machine
, BBC News, ngày 23 tháng 11 năm 2005.
"Demographics"
. Library of Congress.
Lưu trữ
bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2006
. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2008
"Russia's population down 0.17% in 2007 to 142 mln"
. RIA Novosti.
Lưu trữ
bản gốc ngày 14 tháng 3 năm 2008
. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2008
"Demographic balance and crude rates at national level"
. Eurostat.
Lưu trữ
bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2016
. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2016
"Country Profile: Russia"
(PDF)
Library of Congress
—Federal Research Division. tháng 10 năm 2006.
Lưu trữ
(PDF)
bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2005
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
"Immigration Drives Russian Population Increase"
ria.ru
. ngày 20 tháng 8 năm 2012.
Lưu trữ
bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2015
. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2018
"Russian Emigration Spikes in 2013-2014 | The Diplomat"
Lưu trữ
bản gốc ngày 4 tháng 7 năm 2017
. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2017
"Russian Census of 2002"
4.3. Population by nationalities and knowledge of Russian; 4.4. Spreading of knowledge of languages (except Russian)
. Federal State Statistics Service.
Bản gốc
lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2011
. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2008
"The Constitution of the Russian Federation"
(Article 68, §2)
Lưu trữ
bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2018
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
"Russian"
. University of Toronto.
Bản gốc
lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2007
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
Microsoft Encarta Online Encyclopedia 2007.
"Russian language"
Bản gốc
lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2007
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
{{
Chú thích web
}}
: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (
liên kết
"Russian language course"
. Russian Language Centre, Moscow State University.
Bản gốc
lưu trữ ngày 30 tháng 5 năm 2012
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
"Russia"
United States Department of State
(bằng tiếng Anh)
. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2024
Bell, I.
"Eastern Europe, Russia and Central Asia"
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
Zuckerman, P (2005).
Atheism: Contemporary Rates and Patterns, chapter in The Cambridge Companion to Atheism, ed. by Michael Martin
. Cambridge University Press.
"Religion In Russia"
. Embassy of the Russian Federation.
Bản gốc
lưu trữ ngày 8 tháng 2 năm 2001
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
Microsoft Encarta Online Encyclopedia 2007.
"Russia"
Bản gốc
lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2008
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
{{
Chú thích web
}}
: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (
liên kết
"Russia"
Lưu trữ
bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2007
. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2008
(bằng tiếng Nga)
Thể loại:Bài viết có nguồn tham khảo tiếng Nga (ru)
Опубликована подробная сравнительная статистика религиозности в России и Польше"
. religare.ru. ngày 6 tháng 6 năm 2007.
Bản gốc
lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2018
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
{{
Chú thích web
}}
URL chứa liên kết wiki (
trợ giúp
"Fact Box: Muslims In Russia"
. Radio Free Europe.
Lưu trữ
bản gốc ngày 20 tháng 1 năm 2011
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
Page, J.
"The rise of Russian Muslims worries Orthodox Church"
Bản gốc
lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2011
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
{{
Chú thích web
}}
Đã bỏ qua tham số không rõ
published=
trợ giúp
"20Mln Muslims in Russia and mass conversion of ethnic Russians are myths — expert"
. Interfax.
Lưu trữ
bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2008
. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2008
"Russia's Islamic rebirth adds tension"
. Financial Times.
Bản gốc
lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2007
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
27 tháng 6 năm 2007-voa4.cfm Russia Faces Population Dilemma
, VOA News, ngày 18 tháng 6 năm 2007
Mainville, M (ngày 19 tháng 11 năm 2006).
"Russia has a Muslim dilemma"
Page A - 17
. San Francisco Chronicle.
Bản gốc
lưu trữ ngày 13 tháng 5 năm 2012
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
Nettleton, S.
"Prayers for Ivolginsky"
. CNN.
Lưu trữ
bản gốc ngày 22 tháng 11 năm 2001
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
"Russia::Religion"
. Encyclopædia Britannica Online. 2007.
Lưu trữ
bản gốc ngày 26 tháng 4 năm 2008
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
Kowalewski, David (tháng 10 năm 1980).
"Protest for Religious Rights in the USSR: Characteristics and Consequences"
Russian Review
. Quyển
39 số
4. tr.
426–
441.
doi
10.2307/128810
JSTOR
128810
Ramet, Sabrina Petra. (Ed) (1993).
Religious Policy in the Soviet Union
. Cambridge University Press. tr.
Anderson, John (1994).
Religion, State and Politics in the Soviet Union and Successor States
. Cambridge: Cambridge University Press. tr.
ISBN
978-0-521-46784-1
"Anti-religious Campaigns"
. Loc.gov.
Lưu trữ
bản gốc ngày 12 tháng 3 năm 2021
. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2011
Nghiên cứu Quốc gia: Nga - Nhà thờ Chính thống Nga
Lưu trữ
ngày 9 tháng 4 năm 2016 tại
Wayback Machine
Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ, Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2008
ANALYSIS (ngày 10 tháng 5 năm 2017).
"Religious Belief and National Belonging in Central and Eastern Europe"
(PDF)
Bản gốc
(PDF)
lưu trữ ngày 13 tháng 5 năm 2017
. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2017
"Religious Belief and National Belonging in Central and Eastern Europe"
. ngày 10 tháng 5 năm 2017.
Lưu trữ
bản gốc ngày 10 tháng 5 năm 2017
. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2019
"The Constitution of the Russian Federation"
(Article 43 §1)
Lưu trữ
bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2021
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
Smolentseva, A.
"Bridging the Gap Between Higher and Secondary Education in Russia"
Bản gốc
lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2007
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
"Russia Country Guide"
. EUbusiness.com.
Bản gốc
lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2007
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
"Background Note: Russia"
. U.S. Department of State.
Lưu trữ
bản gốc ngày 9 tháng 1 năm 2008
. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2008
"Đoàn tàu kinh tế Nga xa dần đường ray tăng trưởng"
Bản gốc
lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2014
. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2014
"Higher Education Institutions"
. Federal State Statistics Service.
Lưu trữ
bản gốc ngày 29 tháng 2 năm 2008
. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2008
"Education for all by 2015. UNESCO, Oxford University Press"
(PDF)
Lưu trữ
(PDF)
bản gốc ngày 17 tháng 4 năm 2016
. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2009
liên kết hỏng
"Higher education structure"
. State University Higher School of Economics.
Lưu trữ
bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2008
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
"The Constitution of the Russian Federation"
(Article 41)
Lưu trữ
bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2021
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
"Russian ombudsman about propiska restrictions in modern Russia"
Lưu trữ
bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2016
. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2008
"Residency Restrictions in Moscow by Brad K. Blitz"
(PDF)
Lưu trữ
(PDF)
bản gốc ngày 16 tháng 7 năm 2011
. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2008
Field, M G.
The health and demographic crisis in post-Soviet Russia: a two-phase development in "Russia's Torn Safety Nets", edited by Field M. G., Twigg J. L. (eds)
. 2000:11–42: St. Martin's Press.
{{
Chú thích sách
}}
: Quản lý CS1: địa điểm (
liên kết
"Highlights on Health in the Russian Federation"
(PDF)
. World Health Organization. 1999.
Bản gốc
(PDF)
lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2007
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
Leonard, W R (2002).
"Declining growth status of indigenous Siberian children in post-Soviet Russia"
Bản gốc
lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2013
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
{{
Chú thích web
}}
Đã bỏ qua tham số không rõ
tháng=
trợ giúp
ОЖИДАЕМАЯ ПРОДОЛЖИТЕЛЬНОСТЬ ЖИЗНИ ПРИ РОЖДЕНИИ
Life expectancy at birth
Rosstat
. ngày 2 tháng 4 năm 2015.
Bản gốc
(XLS)
lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015
. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2015
"European Union"
. Central Intelligence Agency.
Bản gốc
lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2020
. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2008
"Heart disease kills 1.3 million annually in Russia — chief cardiologist"
. RIA Novosti.
Bản gốc
lưu trữ ngày 4 tháng 1 năm 2010
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
Burlington Free Press, ngày 26 tháng 6 năm 2009, page 2A, "Study blames alcohol for half Russian deaths"
"Corruption Pervades Russia's Health System"
. CBS News.
Bản gốc
lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2007
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
"Third of Russians smoke, but half welcome public smoking ban"
. RIA Novosti.
Bản gốc
lưu trữ ngày 4 tháng 1 năm 2010
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
"HIV/AIDS in the Russian Federation"
. The World Bank.
Bản gốc
lưu trữ ngày 13 tháng 4 năm 2010
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
"Russian regional HIV vaccine center seeks $40–50 mln from budget"
. RIA Novosti.
Bản gốc
lưu trữ ngày 23 tháng 6 năm 2008
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
"Russian Federation"
. UNAIDS: The Joint United Nations Programme on HIV/AIDS.
Russian Federation AIDS information Bản gốc
lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2008
. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2008
{{
Chú thích web
}}
Kiểm tra giá trị
url=
trợ giúp
"119,000 TB cases in Russia — health official"
. RIA Novosti.
Lưu trữ
bản gốc ngày 3 tháng 10 năm 2009
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
"Country Profile: Russia"
(PDF)
Library of Congress
—Federal Research Division. 2006.
Lưu trữ
(PDF)
bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2005
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
{{
Chú thích web
}}
Đã bỏ qua tham số không rõ
tháng=
trợ giúp
"Russian policies ignite unprecedented birth rate in 2007"
. The Economic Times.
Lưu trữ
bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2009
. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2008
"United Nations Expert Group Meeting On International Migration and Development"
(PDF)
. Population Division; Department of Economic and Social Affairs; United Nations Secretariat. 6–ngày 8 tháng 7 năm 2005.
Lưu trữ
(PDF)
bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2009
. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2007
{{
Chú thích web
}}
Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:
ngày=
trợ giúp
"In Putin's Russia, Universal Health Care Is for All Who Pay"
Bloomberg.com
. ngày 13 tháng 5 năm 2015.
Lưu trữ
bản gốc ngày 25 tháng 4 năm 2017
. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2017
"Putin's Cutbacks in Health Care Send Russian Mortality Rates Back Up – Jamestown"
Lưu trữ
bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2016
. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2018
Russian Cuisine by Ruth Jenkins, page 48
"Lịch sử của nhạc Rock ở Nga"
Lưu trữ
bản gốc ngày 1 tháng 1 năm 2016
. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2019
Kelly, C (2001).
Russian Literature: A Very Short Introduction (Paperback)
. Oxford Paperbacks.
ISBN
0-19-280144-9
"Russian literature; Leo Tolstoy"
. Encyclopædia Britannica.
Lưu trữ
bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2015
. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2008
Otto Friedrich (ngày 6 tháng 9 năm 1971).
"Freaking-Out with Fyodor"
Time Magazine
Lưu trữ
bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2014
. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2008
Birgit Beumers.
A History of Russian Cinema
. Berg Publishers (2009).
ISBN
978-1-84520-215-6
. p. 143.
Ruiz, Rebecca (ngày 18 tháng 7 năm 2016).
"Russia May Face Olympics Ban as Doping Scheme Is Confirmed"
The New York Times
ISSN
0362-4331
Lưu trữ
bản gốc ngày 12 tháng 3 năm 2017
. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2016
"MCLAREN INDEPENDENT INVESTIGATION REPORT – PART II"
wada-ama.org
. ngày 9 tháng 12 năm 2016.
Lưu trữ
bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2017
. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2018
Ruiz, Rebecca R. (ngày 9 tháng 12 năm 2016).
"Russia's Doping Program Laid Bare by Extensive Evidence in Report"
The New York Times
Lưu trữ
bản gốc ngày 2 tháng 3 năm 2018
. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2018
Ostlere, Lawrence (ngày 9 tháng 12 năm 2016).
"McLaren report: more than 1,000 Russian athletes involved in doping conspiracy"
The Guardian
Lưu trữ
bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2017
. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2018
Ellingworth, James (ngày 13 tháng 12 năm 2016).
"Emails show how Russian officials covered up mass doping"
Associated Press
Lưu trữ
bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2016.
"Yashin, the impregnable Spider"
Lưu trữ
ngày 28 tháng 11 năm 2013 tại
archive.today
. FIFA. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2013
Information of Russia by Ruth Jenkkins, page 52 and 53
"UNODC Statistics Online"
. United Nations Office On Drugs and Crime.
Lưu trữ
bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018
. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2018
".
Problems of USSR, page 101
"Nga dự định chi 20 tỉ USD cho World Cup 2018"
Lưu trữ
bản gốc ngày 14 tháng 7 năm 2014
. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2014
"Corruption Perceptions Index 2014"
. Transparency International.
Bản gốc
lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2015
. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2015
Suhara, Manabu.
"Corruption in Russia: A Historical Perspective"
(PDF)
Bản gốc
(PDF)
lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016
. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2015
"Russia lost 4 billion dollars on unfavorable state procurement contracts in the last year"
Meduza
(bằng tiếng Anh).
Lưu trữ
bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2016
. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2015
"Cops for hire"
. Economist. 2010.
Lưu trữ
bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2015
. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2015
Klara Sabirianova Peter; Tetyana Zelenska (2010).
"Corruption in Russian Health Care: The Determinants and Incidence of Bribery"
(PDF)
Lưu trữ
(PDF)
bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2015
. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2015
Elena Denisova-Schmidt; Elvira Leontyeva; Yaroslav Prytula (2014).
"Corruption at Universities is a Common Disease for Russia and Ukraine"
. Harvard University.
Lưu trữ
bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2015
. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2015
e.V., Transparency International.
"Corruption Perceptions Index 2016"
www.transparency.org
Bản gốc
lưu trữ ngày 30 tháng 1 năm 2017
. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2017
"Коррупция в России как система "распилки" ВВП - новость из рубрики Общество, актуальная информация, обсуждение новости, дискуссии на Newsland"
. Newsland.ru.
Lưu trữ
bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2020
. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2014
"Suicide rates Data by country"
World Health Organization
. 2016.
Lưu trữ
bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2017
. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2018
Kates, Glenn (ngày 19 tháng 4 năm 2012).
"A Spate of Teenage Suicides Alarms Russians"
. The New York Times.
Lưu trữ
bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2017
. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013
globalterrorismdb_0616dist.xlsx
Lưu trữ
ngày 10 tháng 7 năm 2016 tại
Wayback Machine
Global Terrorism Database
gtd1993_0616dist.xlsx
Lưu trữ
ngày 10 tháng 7 năm 2016 tại
Wayback Machine
). Truy cập from
Lưu trữ
ngày 6 tháng 7 năm 2016 tại
Wayback Machine
University of Maryland
National Consortium for the Study of Terrorism and Responses to Terrorism
. (2016).
Global Terrorism Database
globalterrorismdb_0616dist.xlsx
Lưu trữ
ngày 10 tháng 7 năm 2016 tại
Wayback Machine
).
National Consortium for the Study of Terrorism and Responses to Terrorism
. (2016).
Global Terrorism Database
gtd1993_0616dist.xlsx
Lưu trữ
ngày 10 tháng 7 năm 2016 tại
Wayback Machine
). University of Maryland
"Những vụ khủng bố thảm khốc ở Nga"
Lưu trữ
bản gốc ngày 25 tháng 6 năm 2018
. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2018
Liên kết ngoài
Tìm hiểu thêm về
Nga
tại
các dự án liên quan
Từ điển
từ Wiktionary
Tập tin phương tiện
từ Commons
Tin tức
từ Wikinews
Danh ngôn
từ Wikiquote
Văn kiện
từ Wikisource
Tủ sách giáo khoa
từ Wikibooks
Cẩm nang du lịch guide
từ Wikivoyage
Tài nguyên học tập
từ Wikiversity
Wikivoyage
có cẩm nang du lịch về
Nga
Nga
tại
Từ điển bách khoa Việt Nam
Nga
tại
Encyclopædia Britannica
(bằng tiếng Anh)
Chính quyền
Chính phủ Nga
Thông tin chung
Wikimedia Atlas của Russia
Dữ liệu địa lý liên quan đến
Nga
tại
OpenStreetMap
Russia
The World Factbook
Central Intelligence Agency
Russia
at
UCB Libraries GovPubs
(archived 22 October 2008)
Russia
from
BBC News
Key Development Forecasts for Russia
from
International Futures
Cơ sở dữ liệu tiêu đề chuẩn
Quốc tế
ISNI
VIAF
GND
FAST
WorldCat
Quốc gia
Hoa Kỳ
Pháp
BnF data
Nhật Bản
Úc
Cộng hòa Séc
Ba Lan
Israel
Catalunya
Địa lý
MusicBrainz area
Học thuật
CiNii
Nghệ sĩ
KulturNav
Nhân vật
UK Parliament
Khác
IdRef
Từ điển lịch sử Thụy Sĩ
NARA
İslâm Ansiklopedisi
Yale LUX
Liên bang Nga
Lịch sử
Niên biểu
Ấn-Âu nguyên thủy
Người Scyth
Người Sarmatia
Tiền Slav
Người Slav Đông
Hãn quốc Rus'
Kiev Rus'
Mông Cổ xâm lược Rus
Rus' phong kiến
Novgorod
Vladimir-Suzdal
Moskva
Sa quốc Nga
Đế quốc Nga
Cách mạng Tháng Hai
Cộng hòa Nga
Cách mạng Tháng Mười
Nội chiến Nga
Quốc gia Nga
Nga Xô viết
Liên Xô
Chiến tranh Xô–Đức
Khối phía Đông
Liên Xô tan rã
Liên bang Nga
Nhà nước Liên minh
Địa lý
Biên giới
Thành phố
Khí hậu
Động đất
Điểm cực trị
Nga thuộc châu Âu
Fjord
Địa chất
Sông băng
Vác vùng Đại Nga
Điểm cao nhất
Đảo
Hồ
Biển Caspi
Núi
Kavkaz
Ural
Núi lửa
Bắc Á
Siberia
Viễn Đông Nga
Bắc Kavkaz
Sông
Phân cấp hành chính
Chính trị
Công vụ
Nghĩa vụ quân sự
Hiến pháp
Bầu cử
Ngân sách
Quan hệ ngoại giao
Tự do hội họp và lập hội
Tự do báo chí
Chính phủ
Bộ máy
Tư pháp
Pháp luật
Thi hành pháp luật
Nhà tù
Chủ nghĩa tự do
Chủ nghĩa bảo thủ
Chủ nghĩa dân tộc
Thiết quân luật
Lực lượng Vũ trang
Cơ quan tình báo
Phản đối
Danh sách chính đảng
Tổng thống
Thủ tướng
Cộng đồng các Quốc gia Độc lập
Tổ chức Hiệp ước An ninh Tập thể
Tình trạng khẩn cấp
Phòng thủ dân sự
Kinh tế
Nông nghiệp
Công nghiệp máy bay
Ngân hàng
Công nghiệp ô tô
Ngân hàng Trung ương
Công nghiệp quốc phòng
Vùng kinh tế
Năng lượng
Ngành đánh cá
Lâm nghiệp
Quận tài chính
Sòng bạc
Công nghiệp khai khoáng
Công nghiệp dầu khí
Tài phiệt
Rúp (đơn vị tiền tệ)
Khoa học và công nghệ
Viện Hàn lâm Khoa học Nga
Đóng tàu
Công nghiệp vũ trụ
Thuế
Viễn thông
Du lịch
Công đoàn
Hệ thống giao thông
Quản lý chất thải
Cấp nước và vệ sinh
Xã hội
Phá thai
Rượu
Luật quốc tịch
Tội phạm
Tham nhũng
Nhân khẩu
Giáo dục
Dân tộc
Nữ quyền
Chăm sóc sức khỏe
Nhập cư
Nhân quyền
LGBT
Con người
Mại dâm
Phân biệt chủng tộc
Tôn giáo
Tự tử
Phụ nữ
Văn hóa
Kiến trúc
Nghệ sĩ
Ba lê
Điện ảnh
Ẩm thực
Biểu tượng
Thời trang
Lễ hội
Văn hóa dân gian
Graffiti
Mạng
Phát minh và khám phá
Văn học
Võ thuật
Truyền thông
Âm nhạc
Tên gọi
Quý tộc
Biểu tượng quốc gia
Quốc ca
Quốc huy
Quốc kỳ
Opera
Nhà triết học
Ngày lễ
Ngôn ngữ
Truyền hình
Thể thao
Di sản thế giới
Liên quan
Sơ lược
Thể loại
Cổng thông tin
Bài viết liên quan
Các quốc gia có chủ quyền và lãnh thổ phụ thuộc tại
Châu Âu
Quốc gia
có chủ quyền
Albania
Andorra
Anh
Armenia
Áo
Azerbaijan
Ba Lan
Bắc Macedonia
Belarus
Bỉ
Bồ Đào Nha
Bosna và Hercegovina
Bulgaria
Croatia
Đan Mạch
Đức
Estonia
Gruzia
Hà Lan
Hungary
Hy Lạp
Iceland
Ireland
Kazakhstan
Latvia
Liechtenstein
Litva
Luxembourg
Malta
Moldova
Monaco
Montenegro
Na Uy
Nga
România
Pháp
Phần Lan
San Marino
Serbia
Séc
Síp
Slovakia
Slovenia
Tây Ban Nha
Thổ Nhĩ Kỳ
Thụy Điển
Thụy Sĩ
Ukraina
Vatican
Quốc gia được
công nhận hạn chế
Abkhazia
Bắc Síp
Kosovo
Nam Ossetia
Transnistria
Lãnh thổ
phụ thuộc
Đan Mạch
Quần đảo Faroe
Phần Lan
Åland
Anh
Akrotiri và Dhekelia
Đảo Man
Gibraltar
Guernsey
Jersey
Quốc gia và lãnh thổ
tại
Châu Á
Quốc gia
có
chủ quyền
Afghanistan
Ai Cập
Ả Rập Xê Út
Armenia
Azerbaijan
Ấn Độ
Bahrain
Bangladesh
Bhutan
Brunei
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
Campuchia
Đông Timor
Gruzia
Hàn Quốc
Indonesia
Iran
Iraq
Israel
Jordan
Kazakhstan
Kuwait
Kyrgyzstan
Lào
Liban
Malaysia
Maldives
Mông Cổ
Myanmar
Nepal
Nga
Nhật Bản
Oman
Pakistan
Philippines
Qatar
Singapore
Síp
Sri Lanka
Syria
Tajikistan
Thái Lan
Thổ Nhĩ Kỳ
Turkmenistan
Bắc Triều Tiên
Trung Quốc
Uzbekistan
Việt Nam
Yemen
Quốc gia được
công nhận hạn chế
Abkhazia
Bắc Síp
Nam Ossetia
Palestine
Đài Loan
Lãnh thổ phụ thuộc
và
Đặc khu hành chính
Anh
Akrotiri và Dhekelia
Lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc Anh
Trung Quốc
Hồng Kông
Ma Cao
Úc
Đảo Giáng Sinh
Quần đảo Cocos (Keeling)
Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS)
Armenia
Azerbaijan
Belarus
Kazakhstan
Kyrgyzstan
Nga
Tajikistan
Uzbekistan
Moldova
Thành viên liên kết:
Turkmenistan
Cựu thành viên:
Gruzia
(1993-2009)
Ukraina
(1994-2014)
BRICS
Thành viên
Brazil
Nga
Ấn Độ
Trung Quốc
Nam Phi
Ai Cập
Ethiopia
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
Iran
Indonesia
Hội nghị
Yekaterinburg 2009
Brasília 2010
Sanya 2011
New Delhi 2012
Durban 2013
Fortaleza 2014
Ufa 2015
Goa 2016
Xiamen 2017
Johannesburg 2018
Brasília 2019
Saint Petersburg 2020
New Delhi 2021
Beijing 2022
Johannesburg 2023
Kazan 2024
Rio de Janeiro 2025
Quan hệ
song phương
Brazil–Trung Quốc
Brazil–Ấn Độ
Brazil–Nga
Brazil–Nam Phi
Trung Quốc–Ấn Độ
Trung Quốc–Nga
Trung Quốc–Nam Phi
Ấn Độ–Nga
Ấn Độ–Nam Phi
Nga–Nam Phi
Lãnh đạo
Lula
Putin
Modi
Xi
Ramaphosa
Sisi
Ahmed
Pezeshkian
Al Nahyan
Prabowo
Thể thao
BRICS U-17 Football Cup
2016 Goa
2018 Johannesburg
BRICS Games
2024 Kazan
Athletics
Badminton
Gymnastics
Liên quan
BRICS Contingent Reserve Arrangement
BRICS Cable
BRICS Universities League
New Development Bank
BRICS PAY
BRIC (thuật ngữ kinh tế học)
Tổ chức Hợp tác Kinh tế Biển Đen (BSEC)
Albania
Armenia
Azerbaijan
Bulgaria
Gruzia
Hy Lạp
Moldova
România
Nga
Serbia
Thổ Nhĩ Kỳ
Ukraina
Quốc gia
giáp
Biển Đen
Bulgaria
Gruzia
Nga
România
Thổ Nhĩ Kỳ
Ukraina
Hội đồng Bảo an
Liên Hợp Quốc
(UNSC)
Quyền lực
Chương V
Chương VII
Phủ quyết
Nghị quyết
Thành viên
Thành viên
thường trực
Anh Quốc
Hoa Kỳ
Nga
Pháp
Trung Quốc
Thành viên
không thường trực
Nhiệm kỳ 2020-2021
Estonia
Niger
Saint Vincent và Grenadines
Tunisia
Việt Nam
Nhiệm kỳ 2021-2022
Ấn Độ
Ireland
Kenya
México
Na Uy
Nhiệm kỳ 2022-2023
Albania
Brasil
Gabon
Ghana
UAE
Thể loại
Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS)
Lần thứ 1
10
11
Úc
Brunei
Trung Quốc
Campuchia
Ấn Độ
Indonesia
Nhật Bản
Lào
Malaysia
Myanmar
New Zealand
Philippines
Singapore
Hàn Quốc
Thái Lan
Việt Nam
Nga
Hoa Kỳ
Châu Á
Quốc gia
có chủ quyền
Ả Rập Xê Út
Afghanistan
Ai Cập
Armenia
Azerbaijan
Ấn Độ
Bahrain
Bangladesh
Bhutan
Brunei
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
Campuchia
Đông Timor
Gruzia
Hàn Quốc
Indonesia
Iran
Iraq
Israel
Jordan
Kazakhstan
Kuwait
Kyrgyzstan
Lào
Liban
Malaysia
Maldives
Mông Cổ
Myanmar
Nepal
Nga
Nhật Bản
Oman
Palestine
Pakistan
Philippines
Qatar
Singapore
Síp
Sri Lanka
Syria
Tajikistan
Thái Lan
Thổ Nhĩ Kỳ
Bắc Triều Tiên
Trung Quốc
Turkmenistan
Uzbekistan
Việt Nam
Yemen
Quốc gia được
công nhận hạn chế
Abkhazia
Bắc Síp
Đài Loan
Nam Ossetia
Lãnh thổ
phụ thuộc
và vùng tự trị
Lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc Anh
Quần đảo Cocos (Keeling)
Đảo Giáng Sinh
Hồng Kông
Ma Cao
Thể loại
Cổng thông tin
châu Á
Tổ chức Hợp tác Thượng Hải
Thành viên
Trung Quốc
Kazakhstan
Kyrgyzstan
Nga
Tajikistan
Uzbekistan
Quan sát viên
Ấn Độ
Iran
Mông Cổ
Pakistan
Thành viên
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
System
Accession and membership
Appellate Body
Dispute Settlement Body
International Trade Centre
Chronology of key events
Issues
Criticism
Doha Development Round
Singapore issues
Quota Elimination
Peace Clause
Agreements
General Agreement on Tariffs and Trade
Agriculture
Sanitary and Phytosanitary Measures
Technical Barriers to Trade
Trade Related Investment Measures
Trade in Services
Trade-Related Aspects of Intellectual Property Rights
Government Procurement
Information Technology
Marrakech Agreement
Doha Declaration
Bali Package
Ministerial
Conferences
1st (1996)
2nd (1998)
3rd (1999)
4th (2001)
5th (2003)
6th (2005)
7th (2009)
8th (2011)
9th (2013)
10th (2015)
11th (2017)
People
Roberto Azevêdo
Director-General
Pascal Lamy
Supachai Panitchpakdi
Alejandro Jara
Rufus Yerxa
Thành viên
Afghanistan
Albania
Angola
Antigua
và
Barbuda
Argentina
Armenia
Úc
Bahrain
Bangladesh
Barbados
Belize
Bénin
Bolivia
Botswana
Brasil
Brunei
(Brunei Darussalam)
Burkina
Faso
Burundi
Campuchia
Cameroon
Canada
Cộng hoà Trung Phi
Tchad
Chile
Trung Quốc
Colombia
Cộng hoà Congo
Cộng hoà Dân chủ Congo
Costa
Rica
Bờ Biển Ngà
Croatia
Cuba
Djibouti
Dominica
Cộng hoà Dominica
Ecuador
Ai Cập
El
Salvador
Liên
minh
châu
Âu
Macedonia
Fiji
Gabon
Gambia
Gruzia
Ghana
Grenada
Guatemala
Guinée
Guiné-Bissau
Guyana
Haiti
Honduras
Hồng Kông
Iceland
Ấn Độ
Indonesia
Israel
Jamaica
Nhật Bản
Jordan
Kazakhstan
Kenya
Hàn Quốc
Kuwait
Kyrgyzstan
Lesotho
Liberia
Liechtenstein
Ma Cao
Madagascar
Malawi
Malaysia
Maldives
Mali
Mauritanie
Mauritius
México
Moldova
Mông Cổ
Maroc
Mozambique
Myanmar
Namibia
Nepal
New
Zealand
Nicaragua
Niger
Nigeria
Na Uy
Oman
Pakistan
Panama
Papua
New
Guinea
Paraguay
Peru
Philippines
Qatar
Rwanda
St.
Kitts
và Nevis
St.
Lucia
St.
Vincent
và
Grenadines
Ả Rập Saudi
Sénégal
Seychelles
Sierra
Leone
Singapore
Quần đảo Solomon
Cộng hoà Nam Phi
Sri
Lanka
Suriname
Swaziland
Thụy Sĩ
Đài
Loan
Tanzania
Thái Lan
Togo
Tonga
Trinidad
và Tobago
Tunisia
Thổ Nhĩ Kỳ
Uganda
Ukraina
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
Hoa Kỳ
Uruguay
Venezuela
Việt Nam
Zambia
Zimbabwe
Tất cả hai mươi bảy nước thành viên của
Liên minh châu Âu
cũng là thành viên của WTO:
Áo
Bỉ
Bulgaria
Síp
Cộng hòa Séc
Đan Mạch
Estonia
Phần Lan
Pháp
Đức
Hy Lạp
Hungary
Ireland
Latvia
Litva
Luxembourg
Malta
Hà Lan
và
Antille thuộc Hà Lan
Ba Lan
Bồ Đào Nha
România
Slovakia
Slovenia
Tây Ban Nha
Thụy Điển
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
Đặc khu hành chính (Trung Quốc)
Tên chính thức là
Trung Hoa Dân Quốc
, tên trong tổ chức là
Lãnh thổ thuế quan riêng của Đài Loan, Bành Hồ, Kim Môn và Mã Tổ
Nhóm nước công nghiệp (G8)
Thành viên:
Canada
Pháp
Đức
Nhật Bản
Nga
Anh Quốc
Hoa Kỳ
Đại diện mới của Tây Âu
Liên minh châu Âu
Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM)
Thành viên
ASEAN
Úc
Áo
Bỉ
Brunei
Bulgaria
Campuchia
Trung Quốc
Séc
Síp
Đan Mạch
Estonia
Châu Âu
Phần Lan
Pháp
Đức
Hy Lạp
Hungary
Ấn Độ
Indonesia
Ireland
Nhật Bản
Hàn Quốc
Lào
Latvia
Litva
Luxembourg
Malaysia
Malta
Mông Cổ
Myanmar
Hà Lan
New Zealand
Pakistan
Philippines
Ba Lan
Bồ Đào Nha
România
Nga
Singapore
Tây Ban Nha
Thụy Điển
Slovakia
Slovenia
Thái Lan
Anh Quốc
Việt Nam
Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE)
Thành viên
Albania
Andorra
Armenia
Áo
Azerbaijan
Belarus
Bỉ
Bosna và Hercegovina
Bulgaria
Canada
Croatia
Cyprus
Cộng Hòa Séc
Đan Mạch
Estonia
Phần Lan
Pháp
Gruzia
Đức
Hy Lạp
Tòa Thánh
Hungary
Iceland
Ireland
Kazakhstan
Kyrgyzstan
Latvia
Liechtenstein
Litva
Luxembourg
Macedonia
Malta
Moldova
Monaco
Montenegro
Hà Lan
Na Uy
Ba Lan
Bồ Đào Nha
România
Nga
San Marino
Serbia
Slovakia
Slovenia
Tây Ban Nha
Thụy Điển
Thụy Sĩ
Tajikistan
Thổ Nhĩ Kỳ
Turkmenistan
Ukraina
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
Hoa Kỳ
Uzbekistan
Thành viên
hợp tác
Afghanistan
Algérie
Ai Cập
Israel
Nhật Bản
Jordan
Mông Cổ
Maroc
Hàn Quốc
Thái Lan
Tổ chức Hợp tác Hồi giáo
Thành viên
Afghanistan
Albania
Algérie
Azerbaijan
Bahrain
Bangladesh
Bénin
Burkina Faso
Brunei
Cameroon
Tchad
Comoros
Bờ Biển Ngà
Djibouti
Ai Cập
Gabon
Gambia
Guinée
Guiné-Bissau
Guyana
Indonesia
Iran
Iraq
Jordan
Kuwait
Kazakhstan
Kyrgyzstan
Liban
Libya
Maldives
Malaysia
Mali
Maroc
Mauritanie
Mozambique
Niger
Nigeria
Oman
Pakistan
Palestine
Qatar
Ả Rập Xê Út
Sénégal
Sierra Leone
Somalia
Sudan
Suriname
Syria
Tajikistan
Thổ Nhĩ Kỳ
Tunisia
Togo
Turkmenistan
Uganda
Uzbekistan
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
Yemen
Quan sát viên
Quốc gia và vùng lãnh thổ
Bosna và Hercegovina
Cộng hòa Trung Phi
Nga
Thái Lan
Bắc Síp
Cộng đồng Hồi giáo
Mặt trận Giải phóng Hồi giáo Moro
Tổ chức quốc tế
Tổ chức Hợp tác Kinh tế
Liên minh châu Phi
Liên đoàn Ả Rập
Phong trào không liên kết
Liên Hợp Quốc
Ủy hội châu Âu
Tổ chức
Tổng thư ký
Ủy ban Bộ trưởng
Hội đồng Nghị viện
Đại hội
Tòa án Nhân quyền
Thành viên
Albania
Andorra
Armenia
Áo
Azerbaijan
Bỉ
Bosna và Hercegovina
Bulgaria
Croatia
Síp
Cộng hòa Séc
Đan Mạch
Estonia
Phần Lan
Pháp
Gruzia
Đức
Hy Lạp
Hungary
Iceland
Cộng hòa Ireland
Latvia
Liechtenstein
Litva
Luxembourg
Malta
Moldova
Monaco
Montenegro
Vương quốc Hà Lan
Bắc Macedonia
Na Uy
Ba Lan
Bồ Đào Nha
România
Nga
San Marino
Serbia
Slovakia
Slovenia
Tây Ban Nha
Thụy Điển
Thụy Sĩ
Thổ Nhĩ Kỳ
Ukraina
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
Quan sát viên
Canada
Tòa Thánh
Israel
Nhật Bản
México
Hoa Kỳ
Dòng Chiến sĩ Toàn quyền Malta
Lấy từ “
Thể loại
Nga
Quốc gia BRICS
Quốc gia E7
Thành viên G20
Quốc gia thành viên Cộng đồng các Quốc gia Độc lập
Quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc
Khởi đầu năm 1547
Khởi đầu năm 1991 ở châu Âu
Quốc gia châu Á
Quốc gia Kitô giáo
Quốc gia châu Âu
Quốc gia Đông Âu
Cộng hòa liên bang
Quốc gia thành viên Ủy hội châu Âu
Quốc gia Bắc Á
Quốc gia Đông Bắc Á
Nước cộng hòa thuộc Liên Xô
Quốc gia và vùng lãnh thổ nói tiếng Nga
Thể loại ẩn:
Trang bị hạn chế cho thành viên xác nhận mở rộng
Bài cơ bản
Trang có các đối số formatnum không phải số
Nguồn CS1 có chữ Nga (ru)
Nguồn CS1 tiếng Nga (ru)
Bài viết có văn bản tiếng Nga
Bài viết có văn bản tiếng Việt nêu rõ
Trang sử dụng phần mở rộng Phonos
Trang có IPA tiếng Nga
Trang có phát âm được ghi âm
Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả
Bản mẫu webarchive dùng liên kết wayback
Trang có IPA tiếng Hy Lạp
Trang sử dụng liên kết tự động ISBN
Bài có liên kết hỏng
Bài viết có nguồn tham khảo tiếng Nga (ru)
Bài viết có bản mẫu Hatnote trỏ đến một trang không tồn tại
Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ
Quản lý CS1: địa điểm
Lỗi CS1: URL
Bài viết có trích dẫn không khớp
Lỗi CS1: ký tự ẩn
Lỗi CS1: tên số
Lỗi CS1: URL chứa liên kết wiki
Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
Lỗi CS1: tham số không rõ
Lỗi CS1: ngày tháng
Bản mẫu webarchive dùng liên kết archiveis
Bài viết có nguồn tham khảo tiếng Anh (en)
Nga
Thêm đề tài
US