Tiếng Việt – Wikipedia tiếng Việt
Bước tới nội dung
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tiếng Việt
Phát âm
tiəŋ˧˦
viət̚˧˨ʔ
(Hà Nội)
tiəŋ˦˧˥
viək̚˨˩ʔ
(Huế)
tiəŋ˦˥
viək̚˨˩˨
tiəŋ˦˥
jiək̚˨˩˨
(TP. Hồ Chí Minh)
Tổng số người nói
L1
: 86 triệu
L2
: 11 triệu
Tổng: 97 triệu
(2019)
Dân tộc
Việt
(Kinh)
Phân loại
Nam Á
Vietic
Việt–Mường
Tiếng Việt
Hệ chữ viết
Chữ Latinh
Chữ Quốc ngữ
Chữ nổi tiếng Việt
Chữ Hán
Chữ Nôm
(lịch sử)
Quốc Âm Tân Tự
(đề xuất)
Địa vị chính thức
Ngôn ngữ chính thức
tại
Việt Nam
Ngôn ngữ thiểu số được công nhận
tại
Séc
Slovakia
San Francisco
, Hoa Kỳ
Quy định bởi
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Viện Ngôn ngữ học
Mã ngôn ngữ
ISO 639-1
vi
ISO 639-2
vie
ISO 639-3
vie
Glottolog
viet1252
Linguasphere
46-EBA
Những nơi có số lượng người nói tiếng Việt đáng kể
Bài viết này có chứa ký tự ngữ âm
IPA
Nếu không thích hợp
hỗ trợ dựng hình
, bạn có thể sẽ nhìn thấy dấu chấm hỏi, hộp, hoặc ký hiệu khác thay vì kí tự
Unicode
. Để biết hướng dẫn giới thiệu về các ký hiệu IPA, xem
Trợ giúp:IPA
Một phần của
loạt bài
về
Văn hóa Việt Nam
Lịch sử
Tiền sử
Hồng Bàng
Bắc thuộc
Phong kiến
Pháp thuộc
Đương đại
Dân tộc
Kinh
Tày
Thái
Mường
Khơ Me
H'Mông
Ngôn ngữ
Việt
Tày
Mường
Khơ Me
H'Mông
Phong tục
Hôn nhân
Tang lễ
Thờ cúng tổ tiên
Thần thoại và văn hóa dân gian
Thần thoại
Con Rồng cháu Tiên
Thánh Gióng
Chử Đồng Tử
Mai An Tiêm
Ẩm thực
Miền Bắc
Miền Trung
Miền Nam
Lễ hội
Tết Cổ truyền
Giỗ Tổ Hùng Vương
Ngày Thống nhất
Quốc tế Lao động
Quốc khánh
Tôn giáo
Tín ngưỡng dân gian
Phật giáo
Hòa Hảo
Kitô giáo
Công giáo
Tin Lành
Cao Đài
Nghệ thuật
Văn học
Kiến trúc
Điện ảnh
Mỹ thuật
Sân khấu
Âm nhạc
Văn học
Âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn
Âm nhạc
Truyền thông
Truyền hình
Điện ảnh
Truyền thông
Thể thao
Bóng đá
Vovinam
Di sản
Hoàng thành Thăng Long
Vịnh Hạ Long
Danh thắng Tràng An
Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng
Biểu tượng
Quốc kỳ
Quốc ca
Quốc huy
Cổng thông tin
Việt Nam
Tiếng Việt
hay
tiếng Kinh
là một
ngôn ngữ
thuộc
ngữ hệ Nam Á
, được công nhận là
ngôn ngữ chính thức
tại
Việt Nam
. Đây là
tiếng mẹ đẻ
của khoảng 85%
dân cư Việt Nam
và một bộ phận đáng kể 5 triệu
Việt kiều
ở ngoại quốc, đồng thời là
ngôn ngữ thứ hai
của
các dân tộc thiểu số tại Việt Nam
. Trên thế giới, tiếng Việt được công nhận là một trong những ngôn ngữ chính thức của Thành phố
San Francisco
tại
Hoa Kỳ
và là ngôn ngữ chính thức của một dân tộc thiểu số được công nhận tại
Séc

Slovakia
Dựa trên vốn từ vựng cơ bản, tiếng Việt đã được giới ngôn ngữ học phân loại là
một ngôn ngữ Nam Á
, có quan hệ di truyền với những ngôn ngữ như
Mường
Khmer
Môn
, v.v. Đây cũng là ngôn ngữ Nam Á được sử dụng bởi nhiều người nhất (hơn hẳn tổng số người nói tất cả các ngôn ngữ khác cùng trong
ngữ hệ
cộng lại). Xuyên suốt quá trình lịch sử, tiếng Việt đã tiếp nhận nhiều ảnh hưởng từ các thứ tiếng thuộc ngữ hệ ngoại lai như
Hán
Tai-Kadai
, v.v. qua đó phát sinh nhiều đặc điểm khác thường so với các ngôn ngữ chị em, chẳng hạn như
thanh điệu
hoặc hình vị
đơn âm tiết
Lịch sử
Theo A. G. Haudricourt giải thích từ năm
1954
nhóm ngôn ngữ Việt-Mường
ở thời kỳ khoảng đầu
Công nguyên
là những
ngôn ngữ
hay
phương ngữ
không
thanh điệu
. Về sau, qua quá trình giao thoa với Hoa ngữ và nhất là với các ngữ thuộc
ngữ hệ Tai-Kadai
vốn có hệ thống thanh điệu phát triển cao hơn, hệ thống thanh điệu trong tiếng Việt xuất hiện và có diện mạo như ngày nay, theo quy luật hình thành thanh điệu. Sự xuất hiện các thanh điệu, bắt đầu khoảng
thế kỷ thứ VI
(thời kỳ
Bắc thuộc
trong
lịch sử Việt Nam
) với 3 thanh điệu và phát triển thêm vào khoảng
thế kỷ XII
nhà Lý
) với 6
thanh điệu
. Sau đó một số phụ âm đầu biến đổi cho tới ngày nay. Trong quá trình biến đổi, các phụ âm cuối rụng đi làm thay đổi các kết thúc âm tiết và
phụ âm
đầu chuyển từ lẫn lộn vô thanh với hữu thanh sang tách biệt.
Ví dụ
của A.G. Haudricourt.
Đầu Công nguyên
(vô thanh điệu)
Thế kỷ VI
(3 thanh)
Thế kỷ XII
(6 thanh)
Ngày nay
pa
pa
pa
ba
sla, hla
hla
la
la
ba
ba


la
la


pas, pah

pả
bả
slas, hlah
hlà
lả
lả
bas, bah



las, lah



pax, paʔ



slax, hlaʔ
hlá


bax, baʔ

pạ
bạ
lax, laʔ

lạ
lạ
Trước thời Pháp thuộc
Xem thêm:
Văn ngôn

Từ Hán Việt
Tiếng Việt là ngôn ngữ dùng trong sinh hoạt giao tiếp của dân thường từ khi lập nước. Giai đoạn từ đầu Công nguyên, tiếng Việt có những âm không có trong
tiếng Trung
. Từ khi
tiếng Trung
có ảnh hưởng tới
Việt Nam
thông qua các con đường và bao gồm các giai đoạn khác nhau, tiếng Việt bắt đầu có những âm vay mượn từ
tiếng Trung
. Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến trong cuốn sách
Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
chia quá trình tiếp xúc Hán – Việt thành 2 giai đoạn chính:
Giai đoạn từ đầu Công nguyên đến đầu thời
nhà Đường
(đầu
thế kỷ VIII
), từ vựng tiếng Hán ảnh hưởng tới tiếng Việt trong giai đoạn này gọi là
từ Hán cổ
Giai đoạn từ thời
nhà Đường
thế kỷ VIII
thế kỷ X
) trở về sau, từ vựng tiếng Hán ảnh hưởng tới tiếng Việt trong giai đoạn này gọi là
từ Hán Việt
Từ Hán cổ và từ Hán Việt gọi chung là
từ gốc Hán
1 số từ ngữ Hán cổ có thể kể đến như "
đầu
", "
gan
", "
ghế
", "ông", "bà", "cô", "chè", "ngà", "chén", "chém", "chìm", "buồng", "buồn", "buồm", "mùi", "mùa"... Từ Hán cổ là những từ gốc Hán du nhập vào tiếng Việt từ lâu hơn, đã đồng hoá mạnh hơn, nên những từ này hiện nay là từ thông thường trong hoạt động xã hội đối với người Việt.
Hệ thống
từ Hán Việt
trong tiếng Việt bằng cách đọc các
chữ Hán
theo
ngữ âm
hiện có của tiếng Việt (tương tự như
người Nhật Bản
áp dụng
kanji
đối với chữ Hán và
katakana
với các tiếng nước ngoài khác). Hiện nay có 1945
chữ Hán
thông dụng trong
tiếng Nhật
, cũng có khoảng 2000
từ Hán–Hàn
thông dụng. Số lượng
từ vựng tiếng Việt
có thêm hàng loạt các yếu tố Hán–Việt. Như là "chủ", "ở", "tâm", "minh", "đức", "thiên", "tự do",... giữ nguyên nghĩa chỉ khác cách đọc; hay thay đổi vị trí như "nhiệt náo" thành "náo nhiệt", "thích phóng" thành "phóng thích", "đảm bảo" thành "bảo đảm"...; hoặc rút gọn như "thừa trần" thành "trần" (trong
trần nhà
), "lạc hoa sinh" thành "lạc" (trong
củ lạc
, còn gọi là
đậu phộng
)...; hoặc đọc chệch đi như
sáp nhập
(chữ Hán: 插入) thành
sát nhập
thống kế
(統計) thành
thống kê
để kháng
(抵抗) thành
đề kháng
chúng cư
(眾居) thành
chung cư
bảo cô
(保辜) thành
báo cô
vãng cảnh
(往景) thành
vãn cảnh
(晚景),
khuyến mãi
(勸買) thành
khuyến mại
(勸賣), vân vân; hay đổi khác nghĩa hoàn toàn như "phương phi" trong
tiếng Hán
có nghĩa là "hoa cỏ thơm tho" thì trong tiếng Việt lại là "béo tốt", "bồi hồi" trong
tiếng Hán
nghĩa là "đi đi lại lại" sang tiếng Việt thành "bồn chồn, xúc động"... Mặt khác,
người Trung Quốc
gọi là
Thái Sơn
Hoàng Hà
, cổ thụ... thì
người Việt
lại đọc là
núi Thái Sơn
sông Hoàng Hà
, cây cổ thụ (mặc dù
sơn
= núi,

= sông,
thụ
= cây)... Do tính quy ước của ngôn ngữ mà phần nào đó các cách đọc sai khác với
tiếng Hán
vẫn có ai đó chấp nhận và sử dụng trong khi các nhà nghiên cứu ngôn ngữ tiếng Việt hiện nay cũng như các cơ quan, các cấp quản lý, tổ chức xã hội – nghề nghiệp lẫn các
nhà khoa học
Việt Nam có thể chưa tìm được tiếng nói chung trong việc chuẩn hoá cách sử dụng tên riêng và từ vựng mượn từ tiếng nước ngoài.
Bên cạnh đó, có những từ có thể đã dùng sai như "
quan ngại
" dùng và hiểu như "lo ngại", "vấn nạn" hiểu là "vấn đề nan giải", "vô hình trung" thì viết thành "Vô hình trung" hay "vô hình dung", "việt dã" là "chạy dài"; "trứ tác" dùng như "sáng tác",
phong thanh
" dùng như "phong phanh", "
bàng quan
" dùng như "
bàng quang
", "
đào ngũ
" dùng là "đảo ngũ", "tham quan" thành "thăm quan", "xán lạn" thành "sáng lạng"...
Theo ước lượng của các nhà nghiên cứu,
từ Hán Việt
chiếm khoảng trên dưới 70% vốn từ trong phong cách
chính luận
khoa học
(Maspéro thì cho rằng, chúng chiếm hơn 60% lượng từ tiếng Việt).
Tác giả
Lê Nguyễn Lưu
trong cuốn sách
Từ chữ Hán đến chữ Nôm
thì cho rằng về lĩnh vực chuyên môn và khoa học tỉ lệ này có thể lên đến 80% nhưng khi nhận xét về văn ngữ trong một cuốn tiểu thuyết thì chỉ còn 12,8%, kịch nói rút xuống còn 8,9% và ngôn ngữ nói chuyện hằng ngày còn thấp hơn nữa.
Các từ và từ tố Hán Việt tạo ra các từ ngữ mới cho tiếng Việt như
sĩ diện
phi công
bao gồm
sống động
sinh đẻ
, vân vân. Trong khi tiếng Việt gọi là
phát thanh
(發聲) thì tiếng Hán lại gọi là 廣播
quảng bá
; tiếng Việt gọi là
truyền hình
(傳形) thì tiếng Hán gọi là 電視
điện thị
; tiếng Việt gọi là
thành phố
(城鋪),
thị xã
(市社) thì tiếng Hán gọi là 市
thị
. Tiếng Việt đã lợi dụng được những thành tựu ngôn ngữ trong tiếng Hán để tự cải tiến mình.
Kể từ đầu
thế kỷ thứ XI
Nho học
phát triển, việc học
cổ văn
gia tăng, tầng lớp trí thức mở rộng tạo tiền đề cho một nền văn chương của người Việt bằng cổ văn phát triển với các áng văn thư ví dụ như
Nam quốc sơn hà
bên
sông Như Nguyệt
(sông Cầu).
Tiếng Việt Nam theo
John Barrow
trong sách "A Voyage to Cochin China, in the years 1792, and 1793: containing a general view of the productions..."
Từ vựng
tiếng Thái
, tiếng Việt,
tiếng Khmer
tiếng Chăm
tiếng Lào
tiếng Môn
tiếng Pali
,... trong sách của
John Crawfurd
xuất bản năm
1828
Cùng thời gian này, ai đó xây riêng 1 hệ thống chữ viết cho người Việt theo nguyên tắc ghi âm tiết phát triển, đó là
chữ Nôm
. Để tiện cho việc học
chữ Hán

chữ Nôm
của người Việt,
Ngô Thì Nhậm
(1746–1803) đã biên soạn cuốn sách
Tam thiên tự giải âm
(còn gọi là
Tam thiên tự
, Tự học toản yếu).
Tam thiên tự giải âm
chỉ lược dạy 3000
chữ Hán
Nôm
thông thường, đáp ứng nhu cầu cần thiết, nhớ chữ, nhớ nghĩa từng chữ, mỗi câu 4 chữ. Hiệp vần cũng có điểm đặc biệt, tức là
vần lưng
(yêu vận, vần giữa câu). Tiếng thứ 4 câu đầu hiệp với tiếng thứ hai câu dưới rồi cứ thế mãi đến 3000 chữ, 750 câu. Ví dụ: Thiên – trời, địa – đất, cử – cất, tồn – còn, tử – con, tôn – cháu, lục – sáu, tam – ba, gia – nhà, quốc – nước, tiền – trước, hậu – sau, ngưu – trâu, mã – ngựa, cự – cựa, nha – răng, vô – chăng, hữu – có, khuyển – chó, dương – dê,...
Trần Văn Giáp
đánh giá đây tuy chỉ là quyển sách dạy học vỡ lòng về
chữ Hán
như đã nêu ở trên nhưng thực ra cũng có thể coi nó chính là sách
Từ điển Hán Việt
thông thường và phổ biến ở cuối
thế kỷ XVIII
, cùng thời với các sách
Chỉ nam ngọc âm, Chỉ nam bị loại
và xuất hiện trước các sách
Nhật dụng thường đàm
Thiên tự văn

Đại Nam quốc ngữ
Thời Pháp thuộc
Từ khi
Pháp
xâm lược Việt Nam vào nửa cuối
thế kỷ thứ XIX
tiếng Pháp
dần thay thế vị trí của
cổ văn
, trở thành ngôn ngữ chính thức trong
giáo dục
hành chính

ngoại giao
Chữ Quốc ngữ
chữ Latinh
tiếng Việt), do một số nhà truyền giáo
châu Âu
tạo ra, đặc biệt là hai
tu sĩ
người Bồ Đào Nha
Gaspar do Amaral

Antonio Barbosa
, với mục đích ban đầu là dùng
ký tự Latinh
ghi lại tiếng Việt, được
chính quyền Pháp thuộc
bảo hộ sử dụng nhằm thay thế chữ Hán với chữ Nôm để đồng văn tự với
tiếng Pháp
, dần dần sử dụng phổ biến trong xã hội cùng tiếng Pháp.
Gia Định báo
là tờ báo đầu tiên mà phát hành bằng chữ Quốc ngữ tại Nam Kỳ vào năm
1865
, đặt nền móng cho sự phát triển và xu hướng của
chữ Quốc ngữ
như là chữ viết chính của tiếng Việt sau này.
Mặt khác, những khái niệm chính trị xã hội, kỹ thuật mới dẫn đến việc nhập các thuật ngữ, từ ngữ mới. Có 2 xu hướng về cách thức nhập thuật ngữ là:
Nhập từ phiên âm của ngôn ngữ phương Tây, chủ yếu là từ
tiếng Pháp
và có thể sử dụng bởi tầng lớp thị dân có thể vốn không thạo chữ Hán
như
ghi đông
phanh
lốp
găng
pê đan
phuốc tăng
(nay gọi là
phuộc
),...
Nhập qua
âm Hán Việt
của
chữ Hán
từ
tiếng Trung

tiếng Nhật
từ Hán-Việt gốc Nhật
) như
chính đảng
kinh tế
giai cấp
bán kính,
câu lạc bộ
... Trong giới văn hoa thì các tên riêng phương tây mà dùng là
từ Hán Việt
như Á Căn Đình (
Argentina
), Nã Phá Luân (
Napoleon
),... hay Tòa Bạch Ốc (Nhà Trắng),...
Sau năm 1945
Tiếng Việt thay thế hoàn toàn
tiếng Pháp

văn ngôn
, trở thành ngôn ngữ làm việc cấp quốc gia duy nhất của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Trong thời kỳ
chiến tranh Việt Nam
, sự phát triển tiếng Việt trong chính thể
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
ở miền Bắc và
Việt Nam Cộng hòa
ở miền Nam diễn ra có khác nhau, chủ yếu ở sử dụng
từ Hán-Việt
và phiên âm tên trong tiếng nước ngoài.
Tại miền Bắc (
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
) có xu hướng chuyển sang sử dụng
từ thuần Việt
thay thế từ Hán Việt cùng nghĩa còn ở miền Nam (
Việt Nam Cộng hòa
) thì vẫn giữ nguyên việc sử dụng
từ Hán Việt
như thời trước 1945. Ví dụ như miền Nam vẫn giữ tên "Ngân hàng Quốc gia" trong khi miền Bắc đổi thành "Ngân hàng Nhà nước" (1960), miền Nam gọi là "phi trường" thì miền Bắc gọi là "sân bay", miền Nam gọi là "Ngũ Giác Đài" thì miền Bắc gọi là "Lầu Năm Góc", miền Nam gọi là "Đệ nhứt thế chiến" thì miền Bắc gọi là "Chiến tranh thế giới thứ nhất", miền Nam gọi là "hỏa tiễn" thì miền Bắc gọi là "tên lửa", miền Nam gọi là "thủy quân lục chiến" còn miền Bắc đổi thành "lính thủy đánh bộ",... Ngược lại ở miền Bắc lại dùng một số danh từ bắt nguồn từ tiếng Hán như "tham quan", "sự cố", "nhất trí", "đăng ký", "đột xuất", "vô tư",... thì miền Nam lại dùng những chữ "thăm viếng", "trở ngại/trục trặc", "đồng lòng", "ghi tên", "bất ngờ", "thoải mái",...
Việc phiên dịch địa danh tiếng nước ngoài thì ở miền Nam vẫn theo cách trước 1945 là dùng tên theo
từ Hán Việt
, như Băng Đảo (
Iceland
),
Úc Đại Lợi
(Australia), Hung Gia Lợi (
Hungary
), Ba Tây (
Brazil
),... Tại miền Bắc thì chuyển sang dùng tên gọi bắt nguồn từ ngôn ngữ không phải tiếng Hán (thí dụ: Ai-xơ-len, Ô-xtrây-li-a, Hung-ga-ri...), trừ ra một số tên Hán Việt phổ biến như "Pháp", "Đức", "Anh", "Nga"... Cá biệt (có thể là duy nhất) 1 tên
tiếng Trung

Zhuang
người Tráng
) "phiên âm trực tiếp" thành
Choang
trong tên gọi chính thức
Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây
".
10
note 1
Sau khi
Việt Nam
thống nhất vào năm 1975, quan hệ Bắc-Nam đã kết nối lại. Gần đây, sự phổ biến hơn của các phương tiện truyền thanh và truyền hình trên toàn quốc góp phần chuẩn hóa tiếng Việt về
chính tả
và âm điệu. Từ Hán Việt và từ thuần Việt được người Việt sử dụng song song tùy thuộc ngữ cảnh hay văn phong. Sự di cư để học tập và làm việc giữa các vùng miền giúp mọi người ở Việt Nam được tiếp xúc và hiểu nhiều hơn với các
phương ngữ tiếng Việt
Phân bố
Phân bố độ phổ biến của tiếng Việt trên lãnh thổ
Việt Nam
. Trong đó các khu vực màu vàng nhạt là các khu vực sử dụng tiếng dân tộc bản địa trong đời sống là nhiều hơn so với tiếng Việt.
Theo
Ethnologue
, tiếng Việt có tại
Anh
Ba Lan
Campuchia
Côte d'Ivoire
Đức
Hà Lan
Lào
Na Uy
Nouvelle-Calédonie
Phần Lan
Pháp
Philippines
Cộng hòa Séc
Sénégal
Thái Lan
Vanuatu
Đài Loan
Nga
... Riêng
Trung Quốc

người Kinh bản địa
Đông Hưng
, tiếng Việt của họ có pha trộn âm giọng của các ngôn ngữ Hán (
Quan thoại
tiếng Quảng Đông
,...).
Tiếng Việt là ngôn ngữ dân tộc thiểu số tại
Cộng hòa Séc
vì người Việt được công nhận là "dân tộc thiểu số" tại Séc.
11
Phương ngữ
Bài chi tiết:
Phương ngữ tiếng Việt
Tiếng Việt có sự thay đổi trong giọng nói từ Bắc vào Nam, không đột ngột mà
tiệm tiến
dần theo từng vùng liền nhau. Trong đó, giọng Bắc (Nam Định – Thái Bình), giọng Trung
Huế
và giọng Nam
Sài Gòn
là 3 phân loại chính. Những tiếng địa phương này khác nhau ở giọng điệu và từ địa phương. Thanh ngã và thanh hỏi ở miền Bắc rõ hơn ở miền Nam và Trung. Miền Bắc phát âm một số phụ âm (tr, ch, n, l...) khác với miền Nam và miền Trung. Giọng Huế có nhiều từ vựng địa phương hơn những giọng khác.
Từ điển Việt-Bồ-La
(1651) của
Alexandre de Rhodes
lấy tiếng miền Bắc làm nền tảng, Dictionarium Anamitico Latinum (1772-1773) của Pierre Pigneaux de Béhaine lấy tiếng miền Nam làm nền tảng.
12
Theo trang thông tin của Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc
13
và học giả Laurence Thompson
14
thì cách đọc tiêu chuẩn hiện nay dựa vào giọng Hà Nội. Tuy nhiên, chưa có quy định nào nói rằng giọng Hà Nội là chuẩn quốc gia.
15
Ngữ âm
Bài chi tiết:
Ngữ âm tiếng Việt
Nguyên âm
Dưới đây là bảng các nguyên âm theo giọng Hà Nội.
Trước
Giữa
Sau
Đôi, giữa
ia/iê
iə̯
ưa/ươ
ɨə̯
ua/uô
uə̯
Đóng
i/y
Nửa đóng
Vừa
əː
Nửa mở
Mở

Trong bảng trên, các nguyên âm trước, giữa và nguyên âm mở là nguyên âm không tròn môi, còn lại là nguyên âm tròn môi.

là dạng ngắn của

Đồng thời, tiếng Việt còn có hệ thống
nguyên âm đôi
và nguyên âm ba.
Phụ âm
Bảng dưới đây trình bày các phụ âm trong tiếng Việt và chính tả tương ứng của chúng.
Môi
Răng
Lợi
Quặt lưỡi
Ngạc cứng
Ngạc mềm
Thanh hầu
Mũi
nh
ng/ngh
Tắc
không bật hơi
tr
ch
c/k/q
bật hơi
th

hút vào
Xát
vô thanh
ph
kh

hữu thanh
d/gi
g/gh
Tiếp cận
y/i
u/o
R-tính
Một số phụ âm chỉ có một cách viết (như
) nhưng một số có nhiều hơn một cách viết như
, có thể biểu diễn bằng
hay
. Đồng thời, các phụ âm có thay đổi tuỳ theo địa phương. Sự khác biệt về phụ âm giữa các vùng miền trình bày kỹ càng hơn trong bài
phương ngữ tiếng Việt
Thanh điệu
Thanh điệu
Miêu tả
Đường nét thanh điệu
Dấu phụ
Ví dụ
Âm thanh
Unicode
ngang
bằng giữa
(không dấu)
ma
huyền
thấp dần
˨˩
◌̀

U+0340 hoặc U+0300
sắc
cao dần, mạnh
˧˥
◌́

U+0341 hoặc U+0301
hỏi
thấp dần rồi cao dần, thô
˧˩˧
◌̉
mả
U+0309
ngã
cao dần, tắc
˧ˀ˦˥
◌̃

U+0342 hoặc U+0303
nặng
thấp dần, tắc, ngắn
˨˩ˀ
◌̣
mạ
U+0323
Tiếng Việt là
ngôn ngữ thanh điệu
, mọi âm tiết của tiếng Việt luôn mang 1 thanh điệu nào đó. Do các thanh điệu của tiếng Việt trong chữ quốc ngữ biểu thị bằng các dấu thanh còn gọi là dấu nên một số người quen gọi các thanh điệu của tiếng Việt là các "dấu". Có sự khác biệt về số lượng thanh điệu và
điệu trị
của thanh điệu giữa các phương ngôn của tiếng Việt, thanh điệu có tên gọi giống nhau không đồng nghĩa với việc nói chúng sẽ giống nhau trong mọi phương ngôn của tiếng Việt. Phương ngôn tiếng Việt Bắc Bộ có 6 thanh điệu, phương ngôn tiếng Việt Trung Bộ và Nam Bộ có 5 thanh điệu. Thanh điệu của tiếng Việt tiêu chuẩn gồm 6 thanh:
ngang
(còn gọi là thanh không dấu do chữ quốc ngữ không có dấu thanh cho thanh điệu này),
sắc
huyền
hỏi
ngã
nặng
nhưng lại thiếu các quy định cụ thể về việc lấy cách phát âm trong phương ngôn nào của tiếng Việt làm cách phát âm tiêu chuẩn cho 6 thanh điệu này.
Các âm tiết mang
vần nhập thanh
, tức là các vần kết thúc bằng 1 trong 3 phụ âm cuối
/k/
(chữ quốc ngữ ghi lại bằng chữ cái "c" hoặc chữ cái nhị hợp "ch"),
/t/
(chữ quốc ngữ ghi lại bằng chữ cái "t"),
/p/
(chữ quốc ngữ ghi lại bằng chữ cái "p") chỉ có thể mang thanh sắc hoặc thanh nặng. 3
âm tắc
trên đã làm cho các âm tiết mang vần nhập thanh chỉ có thể mang các thanh điệu có điệu trị ngắn và nhanh.
Trong thơ ca các thanh điệu phân thành 2 nhóm:
thanh bằng
gồm có
ngang

huyền
, thanh trắc gồm các thanh còn lại. Trong các thể thơ cổ như
Đường luật

lục bát
, có thể có sự hòa hợp thanh điệu bằng trắc giữa các tiếng trong 1 câu thơ.
Ngữ pháp
Bài chi tiết:
Ngữ pháp tiếng Việt
Tiếng Việt là 1
ngôn ngữ đơn lập
. Các quan hệ ngữ pháp thể hiện chủ yếu thông qua hệ thống
hư từ
và cách sắp xếp trật tự từ trong câu. Trật tự từ thông dụng nhất trong tiếng Việt là
chủ ngữ
vị ngữ
tân ngữ
(SVO). Tuy nhiên, trật tự trong câu có thể trong một số trường hợp sắp xếp theo kiểu ngôn ngữ nổi bật chủ đề, vì thế mà 1 câu có thể theo trật tự Tân ngữ - Chủ ngữ - Vị ngữ (OSV).
Vị trí các từ sắp xếp theo thứ tự, từ mang ý chính đứng trước từ mang ý phụ đứng sau bổ sung nghĩa cho từ mang ý chính, tương tự như danh từ đứng trước tính từ đứng sau bổ sung nghĩa cho danh từ. Tuy nhiên trong một số trường hợp, bổ ngữ (bao gồm từ mang ý phụ và tính từ) sẽ đứng trước danh từ.
Tiếng Việt còn có hệ thống
đại từ nhân xưng
dựa trên các từ ngữ chỉ quan hệ xã hội và hệ thống
danh từ đơn vị
Từ vựng
Bài chi tiết:
Từ vựng tiếng Việt
Từ vựng tiếng Việt
có 2 bộ phận chính:
từ thuần Việt

từ mượn
. Ngoài ra còn có những từ hỗn chủng là kết quả của sự kết hợp các yếu tố thuần Việt và ngoại lai.
Từ thuần Việt
Bài chi tiết:
Từ thuần Việt
Từ thuần Việt
là những từ xuất hiện lâu hơn trong tiếng Việt, biểu thị những
sự vật
hiện tượng
, khái niệm cơ bản nhất trong đời sống hằng ngày. Do có sự tiếp xúc từ sớm hơn với các ngôn ngữ nhóm Tày-Thái nên nhiều
từ thuần Việt
và các từ tương ứng trong các tiếng này có sự giống nhau nhất định về
ngữ âm

ngữ nghĩa
16
Từ Hán Việt
Bài chi tiết:
Từ Hán Việt
Sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và
tiếng Hán
bắt đầu khi
nhà Hán
của
Trung Quốc
xâm chiếm khu vực Việt Nam. Quá trình tiếp xúc đã đưa vào tiếng Việt một khối lượng từ ngữ của
tiếng Hán
. Giai đoạn đầu, hiện tượng này diễn ra lẻ tẻ, rời rạc hơn chủ yếu thông qua đường khẩu ngữ qua sự tiếp xúc giữa
người Việt

người Hán
, tạo nên 1 lớp từ có nguồn gốc Hán cổ mà đã hoà lẫn với các
từ thuần Việt
17
Đến
đời Đường
, tiếng Việt mới có sự tiếp nhận các từ ngữ Hán một cách có hệ thống qua đường sách vở. Các từ ngữ gốc Hán này chủ yếu đọc theo ngữ âm đời Đường tuân thủ nguyên tắc ngữ âm tiếng Việt gọi là
âm Hán–Việt
. Khi đưa vào tiếng Việt, bên cạnh việc thay đổi về mặt ngữ âm, một số từ Hán Việt thay đổi cả
ngữ nghĩa
17
Từ Hán-Việt
chiếm 1 phần trong vốn
từ vựng tiếng Việt
, chúng hiện diện một số lĩnh vực của đời sống xã hội.
Từ có nguồn gốc Ấn–Âu
Bài chi tiết:
Từ mượn

Vinish
Kể từ khi
Việt Nam
trở thành thuộc địa của Pháp,
tiếng Pháp
đã có ảnh hưởng đến tiếng Việt và các
từ ngữ gốc Pháp
thâm nhập vào tiếng Việt. Sự ảnh hưởng này là do tiếng Pháp có sử dụng trong các văn bản, giấy tờ của Nhà nước và trong giảng dạy ở nhà trường cũng như trong các loại sách báo khác. Ảnh hưởng này kéo theo sự xuất hiện của các từ gốc Pháp trong các lĩnh vực khác nhau đặc biệt là trong
khoa học kỹ thuật
Trong thời kỳ
Chiến tranh Việt Nam
miền Bắc Việt Nam
chịu ảnh hưởng của
Liên Xô
. Do đó, một số từ ngữ gốc
Nga
có điều kiện du nhập vào tiếng Việt. Đồng thời, cùng với sự tiếp xúc, hội nhập sâu rộng hơn với thế giới, trong tiếng Việt cũng xuất hiện các từ ngữ có nguồn gốc từ
tiếng Anh
Nhìn chung, khi đưa vào tiếng Việt, những từ này đã Việt hoá về mặt âm đọc (thêm thanh điệu, thay đổi âm hoặc giảm bớt âm tiết). Những từ đơn âm tiết (hoặc đơn âm hoá), vay mượn qua khẩu ngữ thâm nhập vào tiếng Việt. Trong khi đó, những từ có 2 âm tiết trở lên, vay mượn thông qua sách vở vẫn còn dấu ấn ngoại lai.
18
Có những từ vay mượn nguyên dạng nên tạo ảnh hưởng trong cách phát âm.
Từ có nguồn gốc tiếng dân tộc thiểu số
Là 1 nước đa sắc tộc với
54 dân tộc
đã công nhận, tiếng Việt phổ thông tiếp nhận 1 phần tiếng dân tộc thiểu số, gồm từ thông dụng và tên riêng của người hay địa vật và các từ này có thể có vần "phi Việt". Quá trình này diễn ra trong lịch sử. Dựa theo tên người/danh xưng đăng tải trên báo chí và các địa danh trên các bản đồ hành chính, chúng ta có thể phân loại các cách nhập tiếng dân tộc thiểu số như sau:
19
Từ tiếng nói của hầu hết các dân tộc từ Quảng Bình trở ra, đã cư trú lâu hơn cùng người Kinh và/hoặc thuộc
vùng Văn hóa Đông Á
, như người Mường, Tày, Nùng, Thái,... thì họ tên người thì theo
từ Hán Việt
như các họ "Triệu", "Đàm", "Cầm", "Đèo",..., còn địa danh thì theo ghi âm như "Nậm", "Huổi/ Khuổi", "Pắc",... Đôi khi sự giao lưu với người Kinh dẫn đến những tên hỗn hợp như
Hang Bua
(tên tiếng Thái là
Thẩm Bua
, nghĩa là Hang Sen).
20
Từ
tiếng H'Mông
thì theo ghi âm mà không theo
từ Hán Việt
, mặc dù
tiếng H'Mông
có quan hệ gần hơn với
tiếng Hoa
. Ví dụ như các họ Vàng (Vương, Vang), Giàng (Dương, Yang),... hay các địa danh như
Lào Cai
(nghĩa chữ là
Chợ Cũ
từ Hán Việt

Lão Nhai
老街),
Sa Pa
(Sa Pả, nghĩa chữ là
Bãi Cát
),... Trường hợp loại trừ là họ tên
vua Mèo
mà dùng
từ Hán Việt
như
Vương Chí Sình
Từ tiếng nói của các dân tộc ở Tây Nguyên, Nam Bộ,... thì theo ghi âm là chính, như
Đắk Lắk
Krông Pắc
,... hoặc biến âm như
Sóc Trăng
Nha Trang
,... Cá biệt có việc giới chức biên phòng đã "Kinh hóa" địa danh đặt tên đồn biên phòng, ví dụ tại xã
Pờ Y
có Đồn/
Cửa khẩu Bờ Y
Các chữ và vần "phi Việt" viết theo hướng dẫn trong Quyết định 240/QĐ "
Về tên riêng không phải tiếng Việt
",
21
trong đó các chữ cái F, J, W, Z có thể tùy nghi sử dụng.
Từ hỗn chủng
Từ hỗn chủng là những từ tạo thành từ các yếu tố có nguồn gốc khác nhau như giữa yếu tố thuần Việt và Hán Việt, giữa yếu tố thuần Việt và yếu tố Ấn-Âu. Cùng với sự phát triển của tiếng Việt, các từ hỗn chủng đã gia tăng, đóng 1 vai trò trong việc diễn đạt các khái niệm mới hơn trong xã hội.
Ví dụ:
vôi hoá
Hán-Nôm
𥔦化
) – "vôi" là thuần Việt, "hoá" là Hán-Việt.
ôm kế
– "ôm" là từ tiếng Đức
Ohm
, "kế" là Hán-Việt.
nhà băng
– "nhà" là thuần Việt, "băng" là từ tiếng Pháp
banque
game thủ
– "game" là tiếng Anh, "thủ" là Hán-Việt.
Chữ viết
Xem thêm:
Chữ viết tiếng Việt
"Tôi nói tiếng Việt Nam"
(碎呐㗂越南), bên trên viết bằng
Chữ Quốc ngữ
chữ Latinh
), bên dưới viết bằng
chữ Nôm
(gạch chân) với
chữ Hán
Truyện Nôm
Phan Trần
, ấn bản Nhâm Tý (1912) triều
Duy Tân
Một trang
Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum
tức
Từ điển Việt-Bồ-La
in năm 1651
Theo dòng lịch sử phát triển, tiếng Việt có 3 dạng ký tự để viết là
chữ Hán
chữ Nôm
(dựa trên
chữ Hán
) và
chữ Quốc ngữ
chữ Latinh
).
Chữ Hán và chữ Nôm là văn tự chính của Việt Nam trước thế kỷ 20. Tất cả các tác phẩm sử học và văn học cổ truyền Việt Nam đều viết bằng chữ Hán, chữ Nôm như
Chiếu dời đô
Hịch tướng sĩ
Bình Ngô đại cáo
Đoạn trường tân thanh
Đại Việt sử ký toàn thư
,...
Chữ Quốc ngữ là
chữ Latinh
dựa trên bảng chữ cái và âm vị của
tiếng Bồ Đào Nha
đối chiếu với tiếng Việt, do các nhà truyền giáo
Dòng Tên
Bồ Đào Nha xây dựng vào đầu
thế kỷ 17
rồi do giáo sĩ
Alexandre de Rhodes
người
Avinhon
chuẩn định.
22
Đây là người cho in cuốn
Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum
năm
1651
. Cuối
thế kỷ 18
tại
Đàng Trong
diễn ra cuộc chỉnh lý chữ Quốc ngữ dưới sự điều phối của Giám mục
Pierre Pigneau de Behaine
(hay còn biết tới dưới tên Bá Đa Lộc), từ điển có tên
Dictionarium Anamatico-Latinum
soạn quãng năm 1772–1773 nhưng mới chỉ là bản viết tay. Sau đó, từ điển của
Taberd
mang tên
Nam Việt–Dương Hiệp Tự vị
(tựa
Latinh
giống với tựa cuốn của Bá Đa Lộc) xuất bản năm
1838
tại
Serampore
, Ấn Độ.
cần dẫn nguồn
Chữ Quốc ngữ từ lúc ra đời tuy có hơn 200 năm hình thành và phát triển, nhưng chưa đủ phổ biến để là văn tự chính ở Việt Nam vì
chữ Hán

chữ Nôm
vẫn là dạng văn tự phổ biến của tiếng Việt. Phải đến cuối thế kỷ 19, vào thời kỳ
Pháp thuộc
, chính quyền thuộc địa bảo hộ chữ Quốc ngữ và cổ súy thay thế chữ Hán và chữ Nôm để tiếng Việt đồng văn tự Latinh với
tiếng Pháp
, bắt đầu từ Nam Kỳ rồi tới Bắc Kỳ và Trung Kỳ để dễ dàng phổ biến tiếng Pháp và
văn hóa Pháp
. Còn các nhà cải cách Việt Nam ủng hộ việc truyền bá hệ chữ Latinh như phương tiện để khai dân trí, chấn dân khí. Cải cách giáo dục năm 1906 của vua
Thành Thái
cũng bao gồm chương trình dạy chữ Quốc ngữ. Tuy vậy trong giai đoạn này, sự bóc lột của
Thực dân Pháp
khiến người Việt không được đi học đầy đủ, nên hầu hết người Việt giai đoạn này trở nên mù chữ với cả chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ. Ngay sau khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lập quốc,
Chính phủ
phát động
Bình dân học vụ
với mục tiêu nhanh chóng giải quyết nạn mù chữ bằng cách đẩy mạnh dạy chữ Quốc ngữ cho người dân. Chữ Hán và chữ Nôm vẫn được một lượng người Việt sử dụng song song cùng chữ Quốc ngữ, nhưng đến năm 1950, giảng dạy chữ Hán Nôm bị loại ra khỏi chương trình giáo dục của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vì độ phổ biến ở Việt Nam không còn nhiều.
23
Tại Việt Nam hiện nay, người dân chủ yếu sử dụng chữ Quốc ngữ là chính, còn chữ Hán và chữ Nôm thường dùng trong các hoạt động liên quan tới
văn hóa truyền thống
như viết
thư pháp
câu đối
, tìm hiểu lịch sử và văn học cổ, và được giảng dạy trong chuyên ngành Hán Nôm bậc đại học cũng như tại các tổ chức phong trào dạy học chữ Hán và chữ Nôm được sử dụng trong tiếng Việt. Trái ngược lại là cộng đồng
người Kinh bản địa ở Đông Hưng (Trung Quốc)
, do không bị ảnh hưởng bởi chính sách thay thế chữ Hán và chữ Nôm bằng chữ Quốc ngữ của Thực dân Pháp (vùng đất họ sống trở thành lãnh thổ
Đại Thanh
theo
Công ước Pháp-Thanh
ký năm 1887, nên họ không bị Thực dân Pháp đô hộ), những thế hệ con cháu ở đây không bị gián đoạn chuyện đi học và không bị mù chữ. Người Kinh bản địa ở Đông Hưng vẫn duy trì được sự phổ biến của chữ Hán và chữ Nôm trong cộng đồng và vẫn dùng làm văn tự chính cho tiếng Việt ở thời hiện đại giống như người Việt xưa, thay vì dùng chữ Latinh như người Việt ở Việt Nam hiện tại.
24
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013
, tại Chương I Điều 5 Mục 3, ghi tiếng Việt là
ngôn ngữ quốc gia
của
Việt Nam
25
Không có bất kỳ
văn bản
nào ở cấp
nhà nước
quy định
giọng chuẩn

quốc tự
("chữ viết quốc gia" hoặc
văn tự chính thức
) của tiếng Việt.
26
Phần lớn các văn bản hành chính tiếng Việt ở Việt Nam được viết bằng chữ Quốc ngữ theo
"Quy định về chính tả tiếng Việt và về thuật ngữ tiếng Việt" áp dụng cho các sách giáo khoa, báo và văn bản của ngành giáo dục
, nêu tại Quyết định của
Bộ Giáo dục
số 240/QĐ ngày 5 tháng 3 năm 1984
21
do những người thụ hưởng giáo dục đó sau này ra làm việc trong mọi lĩnh vực xã hội hướng tới việc chuẩn hóa
chính tả tiếng Việt
. Không có luật lệ nào cấm người Việt viết tiếng Việt hiện đại bằng chữ Hán Nôm.
Thư pháp
Xem thêm:
Thư pháp Đông Á §
Thư pháp Việt Nam
Cùng với
chữ Hán
Kana

Hangul
, có người "yêu thích"
thư pháp
nâng chữ viết tiếng Việt lên thành một bộ môn
nghệ thuật
Thư pháp chữ Việt ban đầu là thư pháp chữ Nôm và chữ Hán. Sau này chữ Quốc ngữ trở nên phổ biến hơn trong khi nhu cầu và sở thích treo chữ trong nhà vẫn còn, người chơi chữ đã khởi xướng
thư pháp chữ Quốc ngữ
. Còn thư pháp chữ Hán và chữ Nôm hiện nay vẫn duy trì song song.
Bộ gõ tiếng Việt và giao tiếp tiếng Việt qua mạng
Bài chi tiết:
Bộ gõ tiếng Việt
Xem thêm:
Tiếng Việt và máy tính
Tuy cùng là
chữ Latinh
, ngoài 22 ký tự không dấu có trong
bảng chữ cái tiếng Anh
thì
chữ Quốc ngữ
còn chứa lượng ký tự có dấu, bao gồm 7 ký tự Ă, Â, Đ, Ê, Ô, Ơ, Ư cùng 60 chữ nguyên âm (A, Ă, Â, E, Ê, I, O, Ô, Ơ, U, Ư, Y) mang thanh điệu
sắc-huyền-hỏi-ngã-nặng
. Tổng cộng là máy tính hay điện thoại cần phải nạp thêm 67 ký tự, gấp hơn 2,5 lần bảng chữ cái của tiếng Anh (26 ký tự) thì mới đủ để viết tiếng Việt. Nên để có thể viết tiếng Việt trên
máy tính

điện thoại di động
cần có bộ gõ là
phần mềm
hỗ trợ soạn thảo văn bản bằng tiếng Việt đi kèm một số phông chữ Quốc ngữ. Người dùng cũng có thể cài đặt thêm các phông ký tự chữ Quốc ngữ khác phục vụ trang trí và nghệ thuật. Các bộ gõ tiếng Việt khác nhau sẽ quy định các phím bấm khác nhau để hiển thị các dấu thanh, dấu mũ và dấu móc. Có những quy ước chuẩn dấu tiếng Việt, bộ mã, cách gõ và những phần mềm khác nhau. Có bộ mã chữ Việt theo chuẩn quốc tế
Unicode
Do ký tự có dấu phải mã hóa mất lượng bộ nhớ lớn hơn ký tự không dấu, việc tin nhắn
SMS
bằng tiếng Việt có dấu bị hạn chế 70 ký tự/tin nhắn (ít hơn một nửa so với 180 ký tự/tin nhắn của tiếng Anh) nên trước đây người Việt thường nhắn tin SMS không dấu để có thể viết nhiều nội dung hơn và tiết kiệm tiền hơn dù nội dung bằng tiếng Việt không dấu có thể gây hiểu nhầm. Một số trường hợp lợi dụng
viết tắt
, biến đổi ký tự nhằm giảm số lượng (j=gi; f=ph; bỏ
trong "gh","ngh") hay thể hiện rõ âm (z=d vì "đ" viết không dấu thành "d"). Hiện nay nhờ sự phát triển của Internet trên di động (như
Wi-Fi
4G
không giới hạn dung lượng) cùng các
ứng dụng OTT

mạng xã hội
, việc nhắn tin bằng tiếng Việt có dấu trở nên thoải mái hơn mà không lo bị hạn chế ký tự.
Đối với việc gõ
chữ Hán

chữ Nôm
bằng tiếng Việt, do dạng ký tự này hiện không được sử dụng phổ biến ở Việt Nam nên các hãng sản xuất máy tính, điện thoại hay phần mềm coi như loại bỏ. Thời gian gần đây để phục vụ cho nhu cầu tìm hiểu về lịch sử hay văn học cổ cũng như chuyên ngành Hán Nôm, một số cá nhân hay tổ chức đã tạo ra những trang web hay phần mềm giúp viết chữ Hán và chữ Nôm bằng bộ gõ chữ Quốc ngữ. Với chữ Hán do đồng bộ với các chữ của bộ gõ tiếng Trung và tiếng Nhật nên việc hiển thị không khó khăn, còn chữ Nôm do một lượng chữ chưa được mã hoá đầy đủ nên có thể hiển thị bị lỗi trên một số máy tính và điện thoại dưới dạng ô vuông hay dấu hỏi chấm.
Xem thêm
Tiếng Việt tại Hoa Kỳ
Chú thích
Tên gọi
Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây
xuất hiện trên
Báo ảnh Trung Quốc
cỡ năm 1958, do biên tập viên của báo trú tại Hà Nội đã phiên âm trực tiếp từ
Zhuang
theo giọng Hà Nội thành
Choang
mà lẽ ra phải là
Troang
. Giới chức Quảng Tây sử dụng tên này khi sang làm việc với bên Việt Nam.
Tham khảo
Vietnamese
at
Ethnologue
(28th ed., 2025)
Nordhoff, Sebastian; Hammarström, Harald; Forkel, Robert; Haspelmath, Martin, biên tập (2013).
"Vietnamese Language"
Glottolog
. Leipzig: Max Planck Institute for Evolutionary Anthropology.
George, Ashley (ngày 16 tháng 9 năm 2024).
"San Francisco Makes Vietnamese Official"
Language Magazine
. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2025
"Âm vị và các hệ thống âm vị tiếng Việt"
. 23 tháng 8, 2006.
Thuật ngữ và tên riêng tiếng nước ngoài, Nguyễn Văn Khang (2003), http://www.khoahocviet.info/
Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2015
VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TỪ HÁN VIỆT VÀ VIỆC DẠY – HỌC TỪ HÁN VIỆT HIỆN NAY
Lưu trữ
ngày 30 tháng 4 năm 2013 tại
Wayback Machine
Khoa Việt Nam học, Đại học sư phạm Hà Nội. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2015
Lê Nguyễn Lưu,
Từ chữ Hán đến chữ Nôm
. Huế: nxb Thuận Hóa, 2002. tr 202-210
Về cuốn Tam thiên tự do Ngô Thì Nhậm soạn, HOÀNG HỒNG CẨM
liên kết hỏng
Tạp chí Hán Nôm, Số 1 (80) 2007; Tr.18-26
Phân lớp từ ngữ theo nguồn gốc, Các từ ngữ gốc Ấn-Âu
Theo Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến. Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nhà xuất bản Giáo dục, H., 1997, trang 213–219.
Giới thiệu về khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây
Lưu trữ
ngày 11 tháng 6 năm 2020 tại
Wayback Machine
. Đông Hưng Online, 06/12/2017. Truy cập 30/06/2019.
"Người Việt được công nhận là dân tộc thiểu số tại Séc - DVO - Báo Đất Việt"
Bản gốc
lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2014
. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2013
"Viện Ngôn ngữ học - Tin tức, thông báo, sự kiện"
www.vienngonnguhoc.gov.vn
"越南驻华大使馆 - 越南Abc"
(bằng tiếng Trung). Trang thông tin Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc.
Bản gốc
lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2010
. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2011
Thompson, Laurence (1987).
A Vietnamese Reference Grammar
. University of Hawaii Press. tr.
3.
ISBN
0824811178
News, VietNamNet.
"Báo VietnamNet"
VietNamNet News
{{
Chú thích web
}}
last=
có tên chung (
trợ giúp
"Phân lớp từ ngữ theo nguồn gốc: Lớp từ thuần Việt"
. ngày 30 tháng 12 năm 2006
. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2013
"Phân lớp từ ngữ theo nguồn gốc: Các từ ngữ gốc Hán"
. ngày 29 tháng 12 năm 2006
. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2013
"Phân lớp từ ngữ theo nguồn gốc: Các từ ngữ gốc Ấn-Âu"
. ngày 30 tháng 12 năm 2006
. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2013
Tập bản đồ hành chính Việt Nam. Nhà xuất bản Tài nguyên – Môi trường và Bản đồ Việt Nam. Hà Nội, 2013.
Tháng Giêng trẩy hội Hang Bua
. cinet, 2012. Truy cập 22/02/2016.
Quyết định của Bộ Giáo dục số 240/QĐ ngày 5 tháng 3 năm 1984 Quy định về chính tả tiếng Việt và về thuật ngữ tiếng Việt
. Thuvien Phapluat, 2015. Truy cập 12/05/2017.
Trần, Quốc Anh; Phạm, Thị Kiều Ly (tháng 10 năm 2019).
Từ Nước Mặn đến Roma: Những đóng góp của các giáo sĩ Dòng Tên trong quá trình La tinh hoá tiếng Việt ở thế kỷ 17
. Hội thảo Bốn trăm năm hình thành và phát triển chữ Quốc ngữ. TP.HCM: Ủy ban Văn hóa,
Hội đồng Giám mục Việt Nam
Vũ Thế Khôi (2009).
"Ai "bức tử" chữ Hán - Nôm?"
Lưu trữ
ngày 13 tháng 7 năm 2020 tại
Wayback Machine
"Ngôi làng đặc biệt của những người Việt ở Quảng Tây (Trung Quốc)"
VTV News
. ngày 17 tháng 9 năm 2018.
"Hiến pháp năm 2013"
(PDF)
. Quốc hội Việt Nam.
Bản gốc
(PDF)
lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2014
. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2014
"Chữ quốc ngữ chưa được Nhà nước công nhận là quốc tự"
, Giáo dục VN, 22/12/2012
Thư mục
Bài chi tiết:
Thư mục Hán-Nôm học và Việt ngữ học
Tiếng Việt
Bùi, Khánh Thế (2016).
Ngôn ngữ học tiếp xúc và tiếp xúc ngôn ngữ ở Việt Nam
Tp. Hồ Chí Minh
Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP.HCM
ISBN
978-604-73-4197-9
Cao, Xuân Hạo
(2007).
Tiếng Việt: Mấy vấn đề Ngữ âm – Ngữ pháp – Ngữ nghĩa
. Hà Nội:
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
(2005).
Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng
. Hà Nội:
Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
Đoàn, Thiện Thuật (2007) [1977].
Ngữ âm tiếng Việt
. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
Đỗ, Tiến Thắng (2009).
Ngữ điệu tiếng Việt: Sơ khảo
. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
Hoàng, Thị Châu (2009).
Phương ngữ học tiếng Việt
. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
Hoàng, Thị Ngọ (1999).
Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh
. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.
(2005). "Dấu vết cổ của phụ âm đầu "Tr" qua chữ Nôm trong
Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa
".
Tạp chí Hán Nôm
. Quyển
5 số
72. Hà Nội:
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
. tr.
40–
44.
(2003). "Về cách ghi phụ âm đầu /S/ trong tiếng Việt cổ qua chữ Nôm trong
Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa
".
Thông báo Hán Nôm học
. Số
52. Hà Nội: Viện Nghiên cứu Hán Nôm. tr.
397–
406.
(1998). "Dấu tích của các tổ hợp phụ âm đầu KB KM KĐ KN qua cách ghi chữ Nôm cổ".
Thông báo Hán Nôm học
. Số
38. Hà Nội: Viện Nghiên cứu Hán Nôm. tr.
310–
319.
Lê, Quang Thiêm (2014).
Sự phát triển nghĩa từ vựng tiếng Việt: Từ 1945 đến 2005
. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
ISBN
978-604-62-1730-5
(2003).
Lịch sử từ vựng tiếng Việt thời kỳ 1858-1945
. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.
Mai, Ngọc Chừ; Vũ, Đức Nghiệu & Hoàng, Trọng Phiến (2008).
Cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt
. Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục.
Nguyễn, Hoàng Trung (2023).
Cấu trúc sự tình và ý nghĩa thể tiếng Việt
. Tp. Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP.HCM.
Nguyễn, Ngọc Quận (2018).
"Chữ Nôm ghi âm Nam Bộ trong tương quan với ngữ âm vùng miền: Trường hợp văn bản Nôm
Kim Cổ Kỳ Quan
của Nguyễn Văn Thới"
Tạp chí Khoa học Xã hội
. Quyển
237 số
5. Hà Nội:
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
. tr.
34–
45.
ISSN
1605-2811
Nguyễn, Tài Cẩn
(1996).
Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng – Từ ghép – Đoản ngữ
. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
(1997).
Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt: Sơ thảo
. Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
(1979).
Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt
. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.
Nguyễn, Thiện Giáp
(2022).
Ngữ dụng học: Từ lí thuyết đến thực tiễn tiếng Việt
. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
Nguyễn, Thị Lâm (2005). "Chữ Nôm phản ánh ngữ âm địa phương trong
Thiên Nam ngữ lục
".
Tạp chí Hán Nôm
. Quyển
5 số
72. Hà Nội: Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Nguyễn, Văn Lợi
(2006). "Thanh điệu và vấn đề cơ tầng Chăm trong thổ ngữ Cao Lao Hạ (Bố Trạch, Quảng Bình)".
Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
. Quyển
9. TP. Hồ Chí Minh: Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. tr.
4–
21.
doi
10.54607/hcmue.js.0.9.1445(2006)
Pham, Andrea Hoa
(2022).
Nguồn gốc và sự hình thành giọng Quảng Nam
Đà Nẵng
: Nhà xuất bản Đà Nẵng.
ISBN
978-6-0484-6686-2
(2016).
"Sự biến âm trong vần tiếng Việt: Thổ ngữ làng Hến, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh"
Tạp chí Ngôn ngữ
. Quyển
11. Hà Nội:
Viện Ngôn ngữ học
. tr.
7–
26.
Phạm, Thị Kiều Ly (2024).
Lịch sử chữ quốc ngữ, 1615–1919
. Thanh Thư biên dịch. Nhà xuất bản Văn học & Omega Plus.
ISBN
9786044779621
Shimizu, Masaaki (2002).
Khảo sát sơ lược về cấu trúc âm tiết tiếng Việt vào thế kỷ XIV-XV qua hai cứ liệu chữ Nôm
(PDF)
Trần, Thị Hồng Hạnh (2017).
Ngôn ngữ học nhân chủng: Nghiên cứu trường hợp thành ngữ tiếng Việt
. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
ISBN
978-6-0462-9356-9
Trần, Trọng Dương (2012). "Thủy âm kép trong tiếng Việt thế kỷ XIV-XV qua các chữ Nôm cổ trong
Quốc âm thi tập
".
Tạp chí Ngôn ngữ
. Quyển
8. Hà Nội: Viện Ngôn ngữ học. tr.
46–
62.
Trần, Trí Dõi
(2011).
Giáo trình lịch sử tiếng Việt
(PDF)
. Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
Trịnh, Cẩm Lan (2023).
"Tương ứng giữa nguyên âm đơn tiếng Nghệ Tĩnh với nguyên âm đôi phương ngữ Bắc"
Tạp chí Ngôn ngữ
. Quyển
2. Hà Nội: Viện Ngôn ngữ học. tr.
3–
13.
(2017).
Tiếng Hà Nội từ hướng tiếp cận phương ngữ học xã hội
. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội.
Vũ, Đức Nghiệu (2020).
Ngữ pháp lịch sử tiếng Việt: Từ và ngữ đoạn
. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
(2015).
"Các biến đổi ngữ âm lịch sử với việc tạo từ tiếng Việt"
Tạp chí Ngôn ngữ
. Quyển
6. Hà Nội: Viện Ngôn ngữ học. tr.
3–
16.
(2012).
"Ba tổ hợp phụ âm
bl
ml
tl
trong một số văn bản chữ Quốc ngữ thế kỉ XVII, XVIII, XIX"
(PDF)
. Trong Hội thảo Quốc tế về Việt Nam học (biên tập).
Việt Nam học - Kỷ yếu hội thảo quốc tế lần thứ tư
. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học xã hội. tr.
867–
881.
(2011).
Lược khảo lịch sử từ vựng tiếng Việt
. Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
Vũ, Thị Hải Hà (2022). "Đặc điểm thanh điệu một số thổ ngữ ở huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh".
Tạp chí Ngôn ngữ
. Quyển
9. Hà Nội: Viện Ngôn ngữ học. tr.
36–
43.
Ngoại ngữ
Alves, Mark J.
(2020).
"The Đông Sơn Speech Community: Evidence for Vietic"
Cộng đồng ngôn ngữ Đông Sơn: Bằng chứng về tiếng Vietic
Crossroads
. Quyển
19 số
2. Hà Lan:
Brill
. tr.
138–
174.
doi
10.1163/26662523-bja10002
(2018). "Early Sino-Vietnamese Lexical Data and the Relative Chronology of Tonogenesis in Chinese and Vietnamese"
Dữ liệu ngữ vựng Hán-Việt sơ kỳ và niên đại tương đối của quá trình phát sinh thanh điệu ở tiếng Trung và tiếng Việt
Bulletin of Chinese Linguistics
. Quyển
11 số
1–
2. Hà Lan:
Brill
. tr.
3–
33.
doi
10.1163/2405478X-01101007
(2009). "Chapter 24: Loanwords in Vietnamese"
Chương 24: Từ mượn trong tiếng Việt
. Trong Haspelmath, Martin & Tadmor, Uri (biên tập).
Loanwords in the World's Languages: A Comparative Handbook
Từ mượn trong các ngôn ngữ trên thế giới: Một cẩm nang đối chiếu
(bằng tiếng Anh). Berlin, Đức:
De Gruyter Mouton
ISBN
9783110218435
(2008). "Sino-Vietnamese Grammatical Borrowing: An Overview"
Từ mượn ngữ pháp Hán-Việt: Một tổng quan
. Trong Matras, Yaron & Sake, Jeanette (biên tập).
Grammatical Borrowing in Cross-Linguistic Perspective
Từ mượn ngữ pháp theo quan điểm bắt chéo ngôn ngữ học
. Berlin, Đức:
De Gruyter
ISBN
9783110199192
(2006). "Linguistic Research on the Origins of the Vietnamese Language: An Overview"
Nghiên cứu ngôn ngữ học về nguồn gốc của tiếng Việt: Một tổng quan
Journal of Vietnamese Studies
. Quyển
1 số
1–
2. Anh: Nhà xuất bản Đại học California. tr.
104–
130.
doi
10.1525/vs.2006.1.1-2.104
ISSN
1559-3738
JSTOR
10.1525/vs.2006.1.1-2.104
Baxter, William H. & Sagart, Laurent (2014).
Old Chinese: A New Reconstruction
Tiếng Hán thượng cổ: Một phục nguyên mới
. Anh: Nhà xuất bản Đại học Cambridge.
ISBN
978-0-19-994537-5
Brunelle, Marc; Hạ, Kiều Phương & Grice, Martine (2012). "Intonation in Northern Vietnamese"
Ngữ điệu tiếng Việt miền Bắc
The Linguistic Review
. Quyển
29 số
1. Hà Lan: Mouton de Gruyter.
doi
10.1515/tlr-2012-0002
ISSN
1613-3676
Brunelle, Marc & Lê, Thị Xuyến (2011). "Why is sound symbolism so common in Vietnamese?"
Tại sao từ tượng thanh lại phổ biến trong tiếng Việt đến vậy?
. Trong Jeffrey P. Williams (biên tập).
The Aesthetics of Grammar: Sound and Meaning in the Languages of Mainland Southeast Asia
Mỹ học ngữ pháp: Ngữ âm và ngữ nghĩa trong các ngôn ngữ của Đông Nam Á lục địa
. Anh: Nhà xuất bản Đại học Cambridge. tr.
83–
98.
doi
10.1017/CBO9781139030489.006
Brunelle, Marc (2017). "Stress and phrasal prominence in tone languages: The case of Southern Vietnamese"
Độ nổi trội đoản ngữ và trọng âm trong các ngôn ngữ thanh điệu: Trường hợp tiếng Việt miền Nam
Journal of the International Phonetic Association
. Quyển
47 số
3. Anh: Nhà xuất bản Đại học Cambridge. tr.
283–
320.
doi
10.1017/S0025100316000402
JSTOR
26352389
(2014). "Chapter 13: Vietnamese"
Chương 13: Tiếng Việt
. Trong Jenny, Mathias & Sidwell, Paul (biên tập).
The Handbook of Austroasiatic Languages
Cẩm nang các Ngôn ngữ Nam Á
. Bỉ:
Brill
ISBN
9789004283572
(2009). "Tone perception in Northern and Southern Vietnamese"
Tri giác thanh điệu trong tiếng Việt miền Bắc và miền Nam
Journal of Phonetics
Chuyên san ngữ âm học
. Quyển
37 số
1. Hà Lan:
Elsevier
. tr.
79–
96.
doi
10.1016/j.wocn.2008.09.003
ISSN
1095-8576
Bruening, Benjamin & Tran, Thuan (2015). "The nature of the passive, with an analysis of Vietnamese"
Bản chất của thể bị động, với một phân tích tiếng Việt
Lingua
. Quyển
165 số
A. Hà Lan: Elsevier. tr.
133–
172.
JSTOR
10.1016/j.lingua.2015.07.008
(2006).
"Wh-Questions in Vietnamese"
Câu nghi vấn Wh trong tiếng Việt
Journal of East Asian Linguistics
. Quyển
15 số
4. Anh: Springer. tr.
319–
341.
doi
10.1007/s10831-006-9001-1
JSTOR
20100914
DeFrancis, John
(1977).
Colonialism and language policy in Viet Nam
Chủ nghĩa thực dân và chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam
. Đức: Mouton.
ISBN
9789027976437
Duffield, Nigel (2017). "On what projects in Vietnamese"
Về cái gì phóng chiếu trong tiếng Việt
Journal of East Asian Linguistics
. Quyển
26 số
4. Hà Lan: Springer. tr.
351–
387.
doi
10.1007/s10831-017-9161-1
ISSN
1572-8560
Ferlus, Michel
(1997). "Problèmes de la formation du système vocalique du vietnamien"
Các vấn đề về sự hình thành hệ thống thanh âm tiếng Việt
Cahiers de Linguistique - Asie Orientale
(bằng tiếng Pháp). Quyển
XXVI số
1. tr.
37–
51.
doi
10.3406/clao.1997.1504
ISSN
1960-6028
(1991).
"Le dialecte vietnamien de Vinh"
Phương ngữ tiếng Việt ở Vinh
(PDF)
24th International Conference on Sino-Tibetan Languages and Linguistics
(bằng tiếng Pháp).
(1982). "Spirantisation des obstruantes médiales et formation du système consonantique du vietnamien"
Sự xát hóa âm đệm vang và sự hình thành hệ thống phụ âm tiếng Việt
Cahiers de Linguistique - Asie Orientale
(bằng tiếng Pháp). Quyển
XI số
1. tr.
83–
106.
doi
10.3406/clao.1982.1105
ISSN
1960-6028
Fernandes, Gonçalo & Assunção, Carlos (2017). "First codification of Vietnamese by 17th-century missionaries: The description of tones and the influence of Portuguese on Vietnamese orthography"
Hệ thống hóa đầu tiên về tiếng Việt của các nhà truyền giáo thế kỷ thứ 17: Mô tả về thanh điệu và ảnh hưởng của tiếng Bồ Đào Nha lên chính tả tiếng Việt
Histoire Épistémologie Langage
. Quyển
39 số
1. Paris, Pháp: Société d'histoire et d'épistémologie des sciences du langage. tr.
155–
176.
doi
10.1051/hel/2017390108
ISSN
1638-1580
Gong, Xun (2017). "Chinese loans in Old Vietnamese with a sesquisyllabic phonology"
Từ mượn Hán ngữ trong tiếng Việt cổ với âm vị cận âm tiết
Journal of Language Relationship
. Quyển
16 số
2. Hoa Kỳ: Gorgias Press. tr.
55–
72.
doi
10.31826/jlr-2019-171-209
ISSN
2219-4029
Handel, Zev (2019).
Sinography: The Borrowing and Adaptation of the Chinese Script
Hán văn: Sự vay mượn và thích ứng của hệ chữ viết Trung Hoa
. Hà Lan: Brill.
ISBN
9789004352223
Haudricourt, André-Georges
(2018).
"The origin of tones in Vietnamese"
Nguồn gốc thanh điệu trong tiếng Việt
. Marc Brunelle biên dịch
. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2023
{{
Chú thích tạp chí
}}
Chú thích magazine cần
magazine=
trợ giúp
Kirby, James P. (2011). "Vietnamese (Hanoi Vietnamese)"
Tiếng Việt (giọng Hà Nội)
Journal of the International Phonetic Association
. Quyển
41 số
3. Anh: Nhà xuất bản Đại học Cambridge. tr.
381–
392.
doi
10.1017/S0025100311000181
JSTOR
44526624
(2010). "Dialect experience in Vietnamese tone perception"
Trải nghiệm phương ngữ trong tri giác thanh điệu tiếng Việt
The Journal of the Acoustical Society of America
Tạp chí của Hội Âm học Mỹ
. Quyển
127 số
6. Hoa Kỳ: Acoustical Society of America. tr.
3749–
3757.
doi
10.1121/1.3327793
ISSN
0001-4966
PMID
20550273
Lê, Văn Lý (1960).
Le parler Vietnamien: Sa structure phonoloqique et morphologique fonctionnelle
Tiếng Việt: Cấu trúc âm vị và chức năng hình thái
(bằng tiếng Pháp). Sài Gòn: Bô Quốc-gia Giáo-dục, Viện Khảo-cổ.
Michaud, Alexis; Ferlus, Michel & Nguyễn, Minh-Châu (2015). "Strata of standardization: the Phong Nha dialect of Vietnamese (Quảng Bình Province) in historical perspective"
Cơ tầng chuẩn hóa: Phương ngữ Phong Nha của tiếng Việt (Quảng Bình) theo quan điểm lịch sử
Linguistics of the Tibeto-Burman Area
. Quyển
38 số
1. Hà Lan: John Benjamins Publishing Company. tr.
124–
162.
doi
10.1075/ltba.38.1.04mic
Maspero, Henri
(1912). "Etudes sur la phonétique historique de la langue annamite: Les initiales"
Nghiên cứu về lịch sử ngữ âm tiếng An Nam: Phụ âm đầu
Bulletin de l'Ecole française d'Extrême-Orient
(bằng tiếng Pháp). Số
12. tr.
1–
124.
doi
10.3406/befeo.1912.2713
Ngo, Binh
(2020).
Vietnamese: An Essential Grammar
Tiếng Việt: Một ngữ pháp cốt yếu
. Hoa Kỳ: Taylor & Francis.
ISBN
9781315454597
Nguyễn, Đình-Hòa; Alves, Mark J. & Nguyễn, Hồng Cổn (2018). "Vietnamese"
Tiếng Việt
. Trong Bernard Comrie (biên tập).
The World's Major Languages
Những ngôn ngữ lớn của thế giới
. Oxon và New York: Routledge.
ISBN
9781317290490
Nguyễn, Đình-Hòa (1997) [1959].
Vietnamese
Tiếng Việt không son phấn
. Amsterdam và Philadelphia: John Benjamins Publishing Company.
ISBN
978-90-272-8308-5
Pham, Andrea Hoa & Alves, Mark J. (2024). "Onomatopoeia in Vietnamese"
Từ tượng thanh tiếng Việt
. Trong Edith Moravcsik & Lívia Körtvélyessy (biên tập).
Onomatopoeia in the World's Languages: A Comparative Handbook
Từ tượng thanh trong các ngôn ngữ trên thế giới: Một sổ tay so sánh
. Đức: De Gruyter.
doi
10.1515/9783111053226-028
ISBN
9783111053370
Pham, Andrea Hoa & Pham, Andrew Anh (2020). "Productive reduplication in Southern Vietnamese"
Láy từ năng sản trong tiếng Việt miền Nam
Journal of the Southeast Asian Linguistics Society
. Quyển
13 số
2. Hawaii, Hoa Kỳ: Nhà xuất bản Đại học Hawai'i. tr.
i–
x.
ISSN
1836-6821
Pham, Andrea Hoa (2019).
"Vietnamese dialects
: A case of sound change through contact"
Phương ngữ tiếng Việt: Một trường hợp biến đổi ngữ âm thông qua tiếp xúc
. Trong Tue Trinh; Trang Phan & Nigel Duffield (biên tập).
Interdisciplinary Perspectives on Vietnamese Linguistics
Các quan điểm liên ngành về ngôn ngữ học Việt ngữ
. Hoa Kỳ: John Benjamins Publishing Company. tr.
31–
66.
ISBN
9789027261991
(2003).
Vietnamese Tone: A New Analysis
Thanh điệu tiếng Việt: Một phân tích mới
. New York, Hoa Kỳ: Routledge.
ISBN
9780415967624
Phạm, Ben & McLeod, Sharynne (2016). "Consonants, vowels and tones across Vietnamese dialects"
Phụ âm, nguyên âm và thanh điệu trải khắp các phương ngữ tiếng Việt
International Journal of Speech-Language Pathology
. Quyển
18 số
2. Úc: Speech Pathology Australia. tr.
122–
134.
doi
10.3109/17549507.2015.1101162
ISSN
1754-9507
Phan, John D. (2025).
Lost Tongues of the Red River: Annamese Middle Chinese & the Origins of the Vietnamese Language
. Harvard University Press.
ISBN
9780674301696
(2020).
"Sesquisyllabicity, Chữ Nôm, and the Early Modern embrace of vernacular writing in Vietnam"
Cận âm tiết tính, Chữ Nôm, và sự chấp nhận Cận Đại đối với chữ viết thông tục ở Việt Nam
Journal of Chinese Writing Systems
. Quyển
4 số
3.
doi
10.1177/2513850220937355
(2014).
"Rebooting the Vernacular in 17th-century Vietnam"
Tái nạp ngôn ngữ thông tục ở Việt Nam thế kỷ thứ 17
. Trong Benjamin A. Elman (biên tập).
Rethinking East Asian Languages, Vernaculars, and Literacies, 1000–1919
Suy nghĩ lại về Ngôn ngữ, Thông tục ngữ, và Văn hiến ngữ, 1000–1919
. Leiden và Boston: Brill.
ISBN
978-90-04-27927-8
(2013). "Chữ Nôm and the Taming of the South: A Bilingual Defense for Vernacular Writing in the
Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghῖa
Chữ Nôm và quá trình bình định phương Nam: Một bào chữa song ngữ cho chữ viết thông tục trong
Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghῖa
Journal of Vietnamese Studies
. Quyển
8 số
1. California: Nhà xuất bản Đại học California. tr.
1–
33.
doi
10.1525/vs.2013.8.1.1
JSTOR
10.1525/vs.2013.8.1.1
Phan, Le Ha; Vu, Hai Ha & Bao, Dat (2014). "Language Policies in Modern-day Vietnam: Changes, Challenges and Complexities"
Chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam hiện đại: Thay đổi, thách thức và phức tạp
. Trong Peter Sercombe & Ruanni Tupas (biên tập).
Language, Education and Nation-building: Assimilation and Shift in Southeast Asia
Ngôn ngữ, Giáo dục và Kiến quốc: Đồng hóa và Dịch chuyển ở Đông Nam Á
. Đức: Springer. tr.
232–
244.
ISBN
978-90-04-27927-8
Phan, Trang & Duffield, Nigel (2019). "
'To be tensed or not to be tensed?': The case of Vietnamese"
'Chia thì hay không chia thì?': Trường hợp tiếng Việt
Investigationes Linguisticae
. Quyển
41. Hà Lan: John Benjamins Publishing Company. tr.
105–
125.
doi
10.14746/il.2018.41.8
ISSN
1569-9927
Phan, Trang (2023).
The Syntax of Vietnamese Tense, Aspect, and Negation
Cú pháp của thì, thể, và dạng phủ định của tiếng Việt
. Anh: Taylor & Francis.
doi
10.4324/9781003388180
ISBN
9781000909050
Scholvin, Vera & Meinschaefer, Judith (2018). "The integration of French loanwords into Vietnamese: A corpus-based analysis of tonal, syllabic and segmental aspect"
Sự tích hợp từ mượn tiếng Pháp vào tiếng Việt: Một phân tích dựa trên văn thư về khía cạnh thanh điệu, âm tiết tính và đoạn tính
Journal of the Southeast Asian Linguistics
. tr.
57–
173.
doi
10.17169/REFUBIUM-1560
ISSN
1836-6821
Shimizu, Masaaki (2016).
"A Phonological Basis for Rethinking Vietnamese Isoglosses"
Một cơ sở âm vị học để suy nghĩ lại về các đường đẳng ngữ tiếng Việt
Papers from the 3rd International Conference on Asian Geolinguistics
. Bangkok, Thái Lan.
(2015).
"A Reconstruction of Ancient Vietnamese Initials Using Chữ Nôm Materials"
Một phục nguyên phụ âm đầu của Tiếng Việt cổ sử dụng những cứ liệu Chữ Nôm
国立国語研究所論集
. Quyển
9. tr.
135–
158.
doi
10.15084/00000465
ISSN
2186-1358
(2014).
"The Distribution of Final Palatals in Vietnamese Dialects"
Kiểu mẫu phân bố âm cuối ngạc cứng trên các phương ngữ tiếng Việt
The 2nd International Conference on Asian Geolinguistics
. Bangkok, Thái Lan.
Simpson, Andrew & Ngo, Binh (2018). "Classifier syntax in Vietnamese"
Cú pháp loại từ tiếng Việt
Journal of East Asian Linguistics
. Quyển
27. Đức: Springer. tr.
211–
246.
doi
10.1007/s10831-018-9181-5
ISSN
1572-8560
Thompson, Laurence C. (1987).
A Vietnamese Reference Grammar
Một ngữ pháp tham khảo của tiếng Việt
. Honolulu, Hoa Kỳ: Nhà xuất bản Đại học Hawaii.
ISBN
9780824811174
(1959). "Saigon Phonemics"
Âm vị học tiếng Sài Gòn
Language
. Quyển
35 số
3. Hoa Kỳ:
Linguistic Society of America
. tr.
454–
476.
doi
10.2307/411232
ISSN
0097-8507
JSTOR
411232
Tran, Thuan (2021). "Non-canonical word order and temporal reference in Vietnamese"
Thứ tự câu phi chính thống và tham chiếu thời gian trong tiếng Việt
Linguistics
. Quyển
59 số
1. Berlin, Đức: De Gruyter Mouton. tr.
67–
87.
doi
10.1515/ling-2020-0256
ISSN
0024-3949
Trinh, Tue; Phan, Trang & Vũ, Đức Nghiệu (2024). "Negation and polar questions in Vietnamese: Present and past"
Dạng phủ định và câu hỏi có/không trong tiếng Việt: Thì hiện tại và quá khứ
Taiwan Journal of Linguistics
. Quyển
22 số
1. Đài Bắc, Đài Loan: Crane Publishing Co. tr.
67–
87.
doi
10.6519/TJL.202401_22(1).0003
ISSN
1994-2559
Vasavakul, Thaveeporn (2003). "Language Policy and Ethnic Relations in Vietnam"
Chính sách ngôn ngữ và quan hệ sắc tộc ở Việt Nam
. Trong Michael E. Brown & Šumit Ganguly (biên tập).
Fighting Words: Language Policy and Ethnic Relations in Asia
Những từ ngữ tranh đấu: Chính sách ngôn ngữ và quan hệ sắc tộc ở châu Á
. Hoa Kỳ: MIT Press.
doi
10.7551/mitpress/2988.003.0011
ISBN
9780262269353
Tuyển tập
Nhiều tác giả (2019). Nigel Duffield; Trang Phan & Tue Trinh (biên tập).
Interdisciplinary Perspectives on Vietnamese Linguistics
Quan điểm liên ngành về Việt ngữ học
. Amsterdam, Hà Lan: John Benjamins Publishing Company.
ISBN
9789027261991
(2018). Đinh Văn Đức (biên tập).
Tiếng Việt lịch sử: Một tham chiếu hồi quan
. Hà Nội:
Nhà xuất bản Văn học
(2017). Nguyễn Thiện Giáp (biên tập).
Lược sử Việt ngữ học
. Hà Nội:
Nhà xuất bản Tri thức
(2014). Đinh Văn Đức (biên tập).
Tiếng Việt lịch sử trước thế kỷ XX: Những vấn đề quan yếu
. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
(2013). Daniel Hole & Elisabeth Lobel (biên tập).
Linguistics of Vietnamese: An International Survey
Ngôn ngữ học tiếng Việt: Một khảo sát quốc tế
. Đức: De Gruyter Mouton.
ISBN
9783110289411
(2008).
Ngữ pháp tiếng Việt: Những vấn đề lí luận
. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.
Liên kết ngoài
Tra
:Thể loại:Mục từ tiếng Việt
hoặc
các mục từ tiếng Việt
trong từ điển mở tiếng Việt
Wiktionary
Wikibooks
tiếng Anh có chủ đề về
Vietnamese
Wikibooks
có một quyển sách tựa đề
Tiếng Việt
Tư liệu liên quan tới
Vietnamese language
tại
Wikimedia Commons
Tiếng Việt
tại
Từ điển bách khoa Việt Nam
Vietnamese language
tại
Encyclopædia Britannica
(bằng tiếng Anh)
Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes trên mạng
Từ điển tiếng Việt xưa trên mạng nhà sách Sông Hương
Lưu trữ
ngày 26 tháng 9 năm 2007 tại
Wayback Machine
: Từ điển Việt-Latinh của J.L. Taberd, Từ điển Việt Bồ La, Đại Nam Quấc Âm Tự Vị
Giáo sĩ Bồ Đào Nha và chữ Quốc ngữ
Lưu trữ
ngày 28 tháng 4 năm 2005 tại
Wayback Machine
* GS Lâm Văn Bé,
Sách tiếng Việt và Việt học tại các thư viện ngoài Việt Nam (Phần 1)
Lưu trữ
ngày 30 tháng 5 năm 2013 tại
Wayback Machine
Phần 2
Lưu trữ
ngày 30 tháng 5 năm 2013 tại
Wayback Machine
, hay là
Phần 1
Phần 2
㗂越
” (bản chữ Nôm) tại VinaWiki
Tiếng Việt
Tiếng Việt
Ngôn ngữ học
Âm vị học
Ngữ pháp
Hán Nôm
Hệ đếm
Phương ngữ
Thanh Hóa
tại Hoa Kỳ
tại Trung Quốc
Từ vựng
Từ thuần Việt
Từ mượn
từ Hán-Việt
gốc Nhật
Từ đồng âm
Từ lóng
Thế hệ Z
Thành ngữ
gốc Hán
Chữ viết
Chữ Quốc ngữ
Latinh
Hán Nôm
Hán
Nôm
Quốc Âm Tân Tự
Chữ nổi
Chính tả
đặt dấu thanh
Thư pháp
Trên máy tính
bộ gõ
VIQR
VNI
Telex
Teencode
Viết tắt
Thể loại
Cổng thông tin
Ngôn ngữ
tại
Việt Nam
Chính thức
Việt
Ngôn ngữ
bản địa
Nam Á
Bắc Bahnar
Brâu
Co
Hrê
Giẻ
Ca Tua
Triêng
Rơ Măm
Xơ Đăng
Hà Lăng
Ca Dong
Takua
Mơ Nâm
Sơ Rá
Duan
Ba Na
Rơ Ngao
Nam Bahnar
M'Nông
Xtiêng
Mạ
Cơ Ho
Chơ Ro
Katu
Bru
Cơ Tu
Tà Ôi
Pa Kô
Phương
Khơ Mú
Khơ Mú
Xinh Mun
Ơ Đu
Palaung
Kháng
Quảng Lâm
Việt
Arem
Chứt
Đan Lai
Mã Lèng
Mường
Thổ
Nguồn
Việt
Khác
Khmer
Mảng
Nam Đảo
Chăm
Chu Ru
Gia Rai
Haroi
Ê Đê
Ra Glai
H'Mông-Miền
H'Mông
H'Mông
Mơ Piu
Na-Miểu
Pà Thẻn
Miền
Miền
Ưu Miền
Kim Miền
Hán-Tạng
Tạng-Miến
Akha
Cống
Hà Nhì
Xá Phó
Khù Sung (La Hủ Đen)
La Hủ
Lô Lô
Mantsi
Phù Lá
Si La
Hán
Quan thoại
Quảng Đông
Phúc Kiến
Triều Châu
Khách Gia
Sán Dìu
Tai-Kadai
Thái
Thái Đỏ
Thái Đen
Thái Mường Vạt
Thái Trắng
Tày Nhại
Lự
Lào
Pa Dí
Tày Đà Bắc (Phu Thái)
Tày Tấc
Tày Sa Pa
Thái Hàng Tổng
Tay Dọ
Tày-Nùng
Tày
Nùng
Thu Lao
Tráng
Lào Bóc
Sán Chay
Bố Y-Giáy
Bố Y/Giáy
Cao Lan
Kra
Nùng Vẻn (En)
Cờ Lao
La Chí
La Ha
Pu Péo
Đồng-Thủy
Thủy
Tiếng lai
Tiếng Tây bồi
Vietlish
Ngoại ngữ
Tiếng Anh tại Việt Nam
Ký hiệu
Ngôn ngữ ký hiệu Việt Nam
Ngôn ngữ tại Campuchia
Chính thức
Khmer
Ngôn ngữ
bản địa
Môn–
Khmer
Brâu
Chong
Kaco’
Kuy
M'Nông
Mel-Khaonh
Pear
Samre
Sa’och
Somray
Suoy
Tampuan
Thmon
Việt
Xtiêng
Khác
Chăm
Tiếng Gia Rai
Lào
Miến
Tai Phuan
Ê Đê
Thái
Hán
Shan
Ngoại ngữ chính
Pháp
Anh
Ngôn ngữ
tại
Hoa Kỳ
Chính thức
Anh
trên thực tế
Ngôn ngữ
bản địa
Ngữ hệ
Algonquin
Nam Đảo
Caddo
Chinook
Eskimo–Aleut
Iroquois
Keres
Maidu
Muskogee
Na-Dené
Palaihnih
Sahaptin
Pomo
Salish
Sioux
Tano
Tsimshian
Ute-Aztec
Wakash
Wintu
Yuk-Utia
Yuma–Cochimí
Chumash
Kalapuya
Ngôn ngữ
còn tồn tại
Abenaki
Achumawi
Ahtna
Alabama
Aleut
Alutiiq
Arapaho
Arikara
Assiniboine
Blackfoot
Caddo
Cahuilla
Pamlico
Cayuga
Yup'ik Trung Alaskan
Trung Pomo
Yupik Trung Siberia
Miwok Trung Sierra
Chamorro
Cherokee
Chevak Cup’ik
Cheyenne
Chickasaw
Choctaw
Tsimshian Bờ biển
Cocopah
Coeur d'Alene
Ute-Chemehuevi
Columbia-Moses
Comanche
Cree
Crow
Dakota
Deg Xinag
Dena'ina
Đông Pomo
Fox
Gros Ventre
Gwich’in
Haida
Halkomelem
Hän
Havasupai–Hualapai
Hawaii
Hidatsa
Hopi
Hupa
Inuit
Inupiat
Ipai
Jemez
Jicarilla
Kansa
Karuk
Kashaya
Kathlamet
Kawaiisu
Kiowa
Kitanemuk
Klallam
Koasati
Konkow
Koyukon
Kumeyaay
Kutenai
Lakota
Tsinúk
Hạ Tanana
Luiseño
Lushootseed
Mahican
Maidu
Makah
Mandan
Maricopa
Massachusett
Menominee
Mescalero-Chiricahua
Mi'kmaq
Mikasuki
Mohawk
Mohegan-Pequot
Mojave
Mono
Munsee
Muscogee
Myaamia
Nanticoke
Narragansett
Navajo
Nez Perce
Nisenan
Nomlaki
Nooksack
Salish Eo biến Bắc
Bắc Paiute
O'odham
Ojibwe
Okanagan
Omaha–Ponca
Oneida
Onondaga
Osage
Patwin
Picuris
Potawatomi
Powhatan
Quapaw
Quechan
Quiripi
Sahaptin
Salish
Samoan
Seneca
Serrano
Shawnee
Shoshoni
Siuslaw
Đông Nam Pomo
Nam Pomo
Miwok Nam Sierra
Nam Tiwa
Stoney
Tanacross
Taos
Tewa
Thompson
Tiipai
Timbisha
Tolowa
Tübatulabal
Tule-Kaweah Yokuts
Tuscarora
Twana
Unami
Thượng Chinook
Thượng Kuskokwim
Thượng Tanana
Yokuts Thung lũng
Washo
Tây Apache
Wichita
Winnebago
Wintu
Wyandot
Yaqui
Yavapai
Yuchi
Zuni
Ngôn ngữ không còn
người bản ngữ
Apalachee
Atsugewi
Barbareño
Miwok Vịnh
Biloxi
Yokuts Buena Vista
Cahto
Catawba
Trung Kalapuya
Chico
Chitimacha
Chiwere
Miwok Bờ biển
Cowlitz
Cruzeño
Cupeño
Erie
Etchemin
Eyak
Gashowu Yokuts
Holikachuk
Kings River Yokuts
Kitsai
Klamath
Kwalhioqua-Clatskanie
Miwok Hồ
Lipan
Loup
Hạ Chehalis
Mattole
Mitchigamea
Molala
Moneton
Nawathinehena
Neutral Huron
Đông Bắc Pomo
Bắc Kalapuya
Bắc Pomo
Miwok Bắc Sierra
Nottoway
Obispeño
Ofo
Palewyami
Piro Pueblo
Apache Đồng bằng
Miwok Đồng bằng
Purisimeño
Quinault
Susquehannock
Tillamook
Tongva
Tonkawa
Tsetsaut
Tutelo-Saponi
Tututni
Thượng Chehalis
Thượng Umpqua
Ventureño
Wailaki
Wenrohronon
Woccon
Yoncalla
Ngôn ngữ kết hợp
Chinook Jargon
Michif
Ngôn ngữ
ký hiệu
Ngôn ngữ ký hiệu Mỹ
Ngôn ngữ ký hiệu Hawai'i
Keres
Ngôn ngữ ký hiệu người da đỏ vùng Đồng bằng
Blackfoot
Cree
Navajo
Ngôn ngữ ký hiệu Cao nguyên
Ngôn ngữ ký hiệu Puerto Rico
Ngôn ngữ ký hiệu Samoa
Ngôn ngữ ký hiệu Martha's Vineyard
Ngôn ngữ ký hiệu Thung lũng sông Sandy
Ngôn ngữ ký hiệu Henniker
Khác
Tây Ban Nha
Các dạng tiếng Trung Quốc
Pháp
Đức
Tagalog
Ả Rập
Việt
Hàn Quốc
Nga
Ba Lan
Bồ Đào Nha
Ngôn ngữ
tại
Lào
Chính thức
Lào
Thiểu số
Nam Á
Bahnar
Alak
Brâu
Duan
Halang
Giẻ
Jru'
Juk
Laven
Lavi
Nyaheun
Oi
Sapuan
Sedang
Su'
Cơ Tu
Bru
Cheng
Cơ Tu
Kuy
Tà Ôi
Khơ Mú
Khơ Mú
Khuen
Mal
Mlabri
Ơ Đu
Phong
Prai
Xinh Mun
Palaung
Bit
Kiorr
Lamet
Việt
Arem
Chứt
Cuối
Kri
Maleng
Thavưng
Việt
khác
Khmer
H'Mông-Miền
H'Mông
Ưu Miền
Kim Môn
Hán-Tạng
Akeu
Akha
Bantang
Cantan
Cauho
Cosao
Hà Nhì
La Hủ
Phana
Phunoi
Piyo
Sinsali
Si La
Hán
Tai-Kadai
Lào
Khün
Bắc Thái
Nùng
Phuan
Saek
Shan
Thái Mạn
Thái Đỏ
Thái Đen
Thái Trắng
Thái Hàng Tổng (Tai Pao)
Tai Khang
Thái Na
Lự
Yang
Yoy
Ngoại ngữ
Pháp
Anh
Ký hiệu
Ngôn ngữ ký hiệu Lào
Ngôn ngữ tại Philippines
Ngôn ngữ chính thức
Filipino
Anh
Ngôn ngữ khu vực
Aklanon
Bikol
Cebu
Chavacano
Hiligaynon
Ibanag
Ilocano
Ivatan
Kapampangan
Karay-a
Maguindanao
Maranao
Pangasinan
Sambal
Surigaonon
Tagalog
Tausug
Waray
Yakan
Ngôn ngữ bản địa
(theo
vùng
Luzon
Ilocos
Bolinao
Cordillera
Atta
Balangao
Bontoc
Ga'dang
Kalinga
Kallahan
Kankana-ey
Ibaloi
Ifugao
Isnag
Itneg
Itawis
Iwaak
Malaweg
Tuwali
Thung lũng Cagayan
Arta
Atta
Agta Trung Cagayan
Agta Dinapigue
Agta Dupaningan
Gaddang
Ilongot
Isinai
Itbayat
Itawis
Kallahan
Karao
Malaweg
Agta Nagtipunan
Agta Paranan
Paranan
Yogad
Trung Luzon
Abellen
Ambala
Antsi
Botolan
Agta Dumagat Casiguran
Indi
Kasiguranin
Mariveleño
Bắc Alta
Nam Alta
Umiray Dumaget
Calabarzon
Inagta Alabat
Manide
Agta Remontado
Nam Alta
Umiray Dumaget
Vùng đô thị Manila
Tiếng Taglish
Mimaropa
Agutaynen
Alangan
Asi
Calamian Tagbanwa
Trung Tagbanwa
Cuyonon
Iraya
Kagayanen
Molbog
Onhan
Palawan Batak
Palawano
Ratagnon
Romblomanon
Tadyawan
Bicol
Bikol Albay
Inagta Partido
Manide
Masbateño
Agta núi Iraya
Bikol Pandan
Bikol Rinconada
Sorsoganon
Bikol Nam Catanduanes
Visayas
Tây Visayas
Ati
Caluyanon
Capiznon
Sulod
Đảo Negros
Ata
Karolanos
Magahat
Trung Visayas
Bantayanon
Eskaya
Porohanon
Đông Visayas
Abaknon
Baybay
Kabalian
Mindanao
Bán đảo Zamboanga
Subanon
Bắc Mindanao
Bukid
Higaonon
Ilianen
Iranun
Kamigin
Matigsalug
Subanon
Tây Bukidnon
Caraga
Agusan
Ata Manobo
Butuanon
Higaonon
Kamayo
Mamanwa
Davao
Bagobo
B'laan
Davawenyo
Kalagan
Mandaya
Mansaka
Obo
Sangirese
Sarangani
Tagabawa
Soccsksargen
B'laan
Cotabato Manobo
Ilianen
Iranun
Obo
Tboli
Tiruray
Mindanao
Iranun
Pangutaran Sama
Sama
Ngôn ngữ
người nhập cư
Tiếng Ả Rập
Basque
Trung Quốc
Pháp
Đức
Hindi
Nhật
Triều Tiên
Malay
Indonesia
Malaysia
Sindhi
Tây Ban Nha
Việt
Ngôn ngữ kí hiệu
Ngôn ngữ kí hiệu Mỹ
Ngôn ngữ kí hiệu Philippine
Ngôn ngữ cổ
Ngôn ngữ Tiền Philippine
Tiếng Tagalog cổ
Sắc tộc
Ngôn ngữ
Vườn quốc gia
Ẩm thực
Sân bay
Cửa khẩu
Ngữ hệ Nam Á
Bahnar
Bắc
Ba Na
Ca Dong
Ca Tua
Duan
Giẻ
Hà Lăng
Hrê
Mơ Nâm
Rơ Măm
Rơ Ngao
Sơ Drá
Takua
Xơ Đăng
Tây
Brâu
Jru'
Laven
Lavi
Su'
Juk
Nyaheun
Sapuan
Oi
Trung
Alak
Tampuan
Triêng
Nam
Chơ Ro
Cơ Ho
Mel-Khaonh
M'Nông
Ra’ong
Thmon
Xtiêng
Đông
Co
Cơ Tu
Tây Cơ Tu
Kuy
Bru
Tà Ôi
Tà Ôi
Pa Kô
Pa Kô
Cơ Tu
Cơ Tu
Phuong
Việt
Việt-Mường
Việt
phương ngữ
tại Trung Quốc
tại Hoa Kỳ
Mường
Nguồn
Cuối
Cuối
Chứt
Arem
Mày
Rục
Sách
Kri
Kri
Maleng
Thavưng
Phóng–Liha
Liha
Phóng
Khơ Mú
Khơ Mú
Khơ Mú
Mlabri
Mlabri
Phay-Pram
Phai
Mal
Xinh Mun
O’du
Phóng-Kniang
Pear
Pear
Pear
Tây Pear
(Chong)
Trung
Chong Trung
Samre
Kasong
Tây
Chong Tây
Bắc
Somray (Chong Bắc)
Nam
Suoy
Sa'och
Khasi – Palaung
Khasi
Khasi-Pnar-Lyngngam
Khasi
Pnar
Lyngngam
Maharam
War
War
Palaung
Danau
Danau
Tây Palaung
Palaung
Riang
Đông Palaung
Angku
Hu
Man Met
Mok
Muak Sa-aak
Va
Wa
Blang
Lawa
Wa
Meung Yum
Savaiq
Bố Hưng - Kháng
Bố Hưng
Bố Mang
Kháng
Quảng Lâm
Lamet
Lamet
Kiorr
Khác
Khoan
Tai Loi
Munda
Bắc
Korku
Korku
Kherwar
Mundari
Agariya
Asur
Birjia
Birhor
Ho
Koda
Korwa
Majhwar
Mundari
Turi
Santali
Santali
Kol
Nam
Kharia
Kharia
Juang
Juang
Sora-Gorum
Gorum
Sora
Juray
Lodhi
Gutob-Remo
Bonda
Gutob
Gta’
Gta’
Nicobar
Chaura-Teresa
Chaura
Teressa
Trung
Nancowry
Camorta
Katchal
Nam
Car
Nicobar Nam
Shompen
Asli
Jahai
(Bắc)
Batek
Cheq Wong
Jahai
Jedek
Kensiu
Kintaq
Minriq
Mintil
Tiếng Ten'edn
Wila'
Senoic
(Trung)
Lanoh
Sabüm
Semai
Semnam
Temiar
Jah Hut
Jah Hut
Semelai
(Nam)
Mah Meri
Semaq Beri
Semelai
Temoq
Chưa phân loại
Kenaboi
Khác
Môn
Môn
Nyah Kur
Pakan
Ba Lưu
Bố Cam
Khác
Khmer
Khmer Bắc (Surin)
Khmer Tây (Chanthaburi)
Khmer Khe
Mảng
Tiền ngữ
Tiền Nam Á
Tiền Palaung
Tiền Khmer
Tiền Asli
Tiền Munda
Chữ nghiêng
biểu thị các ngôn ngữ đã thất truyền
Các danh mục liệt kê giữa hai dấu ngoặc là
biến thể
của cùng ngôn ngữ ở bên trái.
Cổng thông tin
Văn học
Việt Nam
Hoa Kỳ
Cơ sở dữ liệu tiêu đề chuẩn
Quốc tế
GND
FAST
Quốc gia
Hoa Kỳ
Pháp
BnF data
Nhật Bản
Cộng hòa Séc
Tây Ban Nha
Israel
Khác
IdRef
Yale LUX
Lấy từ “
Thể loại
Tiếng Việt
Ngôn ngữ phân tích
Ngôn ngữ đơn lập
Ngôn ngữ tại Đài Loan
Ngôn ngữ tại Campuchia
Ngôn ngữ tại Trung Quốc
Ngôn ngữ tại Lào
Ngôn ngữ chủ-động-tân
Ngôn ngữ tại Việt Nam
Ngôn ngữ tại Séc
Nhóm ngôn ngữ Việt-Mường
Thể loại ẩn:
Trang bị khóa hạn chế sửa đổi
Trang có IPA tiếng Việt
Bản mẫu webarchive dùng liên kết wayback
Bài có liên kết hỏng
Nguồn CS1 tiếng Trung (zh)
Lỗi CS1: tên chung
Trang sử dụng phần mở rộng Phonos
Trang có IPA thường
Bài viết có trích dẫn không khớp
Bài viết có bản mẫu Hatnote trỏ đến một trang không tồn tại
Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
Nguồn CS1 tiếng Pháp (fr)
Lỗi CS1: thiếu tạp chí
Bài viết có nguồn tham khảo tiếng Anh (en)
Bản mẫu cổng thông tin có liên kết đỏ đến cổng thông tin
Tiếng Việt
Thêm đề tài